Cửu Thế tự Tam

Thân sinh

1917 - 24/11/1979

Thông tin

2/2/1947
?
Cửu Thế tự Tam
(9592+3,6337)
Thầy Hà






Cửu thế tự Tam là tên gọi chung cho những người có tên Tam đang còn sống thuộc đời thứ 9 của bất cứ họ nào cụ thể đây là người họ Trương Quang ở làng Phú Hào (xưa)
Tìm kiếm trên Google gỏ cửu thế tự tam Enter cho kết quả Họ Trương Quang http://hotruongquang.com>252- cuu-the-tu-tam hoặc gỏ Cửu thế tự Tam - hotruongquang.com cho kết quả trực tiếp


Cửu Thế Tự Tam tên thường gọi là Thầy Hà sinh 02/02/1947 là giáo viên THPT dạy toán . Nghỉ hưu 03/2008 với hệ số hưởng lương là 6,38 được xếp hạng GVTHCC , có thời gian công tác liên tục là 43 năm 1 tháng trong đó có 5 năm 7 tháng tham gia lực lượng vũ trang , có được 1 cái Huy chương KCCMCN hạng 2 . Vì không đứng trong hàng ngũ của Đảng nên chẵng ai trao cho chức danh gì , ở tuổi học trò có làm phó Bí Thư ĐT cấp 3 PĐP được hai khóa lúc đó thầy Lê Văn Thiện giáo viên sử làm Bí Thư , mãi tới lúc về hưu mới biết dại là không vào Đảng mặc dầu đã có đủ điều kiện từ tuổi học trò : Học lớp đối tượng Đảng viên HCM 12/1969 tại xã Thạch Trung ; được chi bộ trương cấp 3 PĐP cấp giấy chứng nhận ĐTĐ mang ra khoa toán trường ĐHSPV theo giõi tiếp sau đó lại chuyễn về trường cấp 3 Nguyển Huệ năm 1974 theo giõi tiếp đến năm 1976 chi bộ cho kết nạp mà từ chối dẫn đến thua thiệt bạn bầu trăm đường . Là người có bản lĩnh , có năng lực , có trí tuệ , tính tình vui vẽ , chan hòa với mọi người , hay hát - hát hay , có biết làm thơ , làm phú , làm điếu văn ; có biết đôi chút về tử vi tướng số , có nghiên cứu kinh dịch , biết nhiều về công nghệ thông tin .Thuận tay trái , lắm tài vặt , nghề chi cũng làm được có điều biết một chẵng biết mười , tính hay cầu toàn nên cuộc đời khi nào cũng cảm thấy khổ .

Về trình độ và trí tuệ : Là người đầu tiên học cấp 3 và có trinh độ đại học của dòng họ kể từ khi có họ 1690 , mãi tới 20 năm sau (1994) trong Họ mới rãi rác có những người như Tôi , là tác giả cuốn Gia Phả ĐiệnTử - hotruongquang.com , và cũng có thể là người đầu tiên ở Việt Nam thành công trong việc viết gia phả từ hình thức in ra giấy chuyễn thành một Website trong đó mỗi trang là một trang web riêng cho từng gia phả cá nhân (TWGPCN) trên trang mạng internet mà bí quyết của nó là chuyễn phả đồ "dọc", phả đồ "ngang", phả đồ "hình cây" truyền thống sang phả đồ logic - PĐL đã được số hóa , mũ hóa , chỉ số hóa các thông tin và dữ liệu bằng phương pháp thủ công . Rồi từ đây chuyễn thành Phả Đồ Điện Tử trang web gia phả cá nhân - TWGPCN làm "cốt" cho cuốn Gia Phả Điện Tử với khẳng định : " KHÔNG CÓ PHẢ ĐỒ ĐIỆN TỬ - TWGPCN THÌ KHÔNG BAO GIỜ CÓ GIA PHẢ ĐIỆN TỬ ".
Tất cả những phiên bản viết trên chữ Hán hoặc chữ Nôm dưới chữ Việt trong hotruongquang.com đều do Ông Tam chọn chữ và ghép , tuy có sai sót nhưng không đáng kể . Ông là người sưu tầm được bài : Trương Gia Phả Tựa viết năm Thành Thái ngũ niên 1893 thực chất là bài Gia Phả Tựa chung cho tất cả các họ , nghi bài này là của Trung Quốc vì trong đó có các họ : Đan,Mẫn,Quách,Mao,Thái,Phương,Ngô,Đổ,Vũ... Người mà ngẩu nhiên trong lúc nhàn rổi tận mắt đọc quyển biên xưa viết Năm Tự Đức nguyên niên (1847) , chính duyệt , phụ khảo , chú trọng nhuận sắc cho các đời thứ đến hiệu đính tên họ rồi biên soạn thành tập là hậu duệ đời thứ 12 của một dòng họ có 22 đời , trên vài ngàn đinh có cuốn gia phả viết theo kiểu gia phả chữ Hán năm ? có phả đồ dọc ; Ông là người họ Trương nên Tiên Sinh ấy hiệu đính thành Trương Gia Phả Tựa cho họ nhà mình (bài này Tôi có gữi tặng họ Trương Việt Nam) Đồng thời Ông Tam là tác giả các bài viết :
1 >. Đàm Đạo Về Việc Họ - Thờ cúng Tổ Tiên và giáo dục truyền thống gia đình
2 >. Bài Thơ : Kính Dâng Hương Hồn Mẹ (viết xong sau mẹ Ông mất 12 ngày) bài này có trên Google gỏ Kình Dâng Hương Hồn Mẹ bài đầu tiên : Họ Trương Quang http://www hotruongquang.com >news>13 kính dâng...
3 >. Điếu văn Họ Trương Quang đại tôn Điếu Bát thế húy Sừ viết thay Tộc Trưởng (kịp thời khi đưa tang Ông Sừ ra)
4 >. Bài Thơ : Khóc Mẹ viết thay cho cháu Quốc (cũng kịp thời khi đưa tang mẹ cháu Quốc ra)
5 >. Bài Thơ : Ru Cháu (khi cháu Khải được 3 tháng tuổi)
6 >.Triết lý nhân sinh ; Lời hay ý đẹp ; Những câu thơ triết lý (viết trong nhiều năm)
7 >. Ông đưa ra đươc các dấu hiệu nhận biết họ Trương Việt Nam
8 >. Ông là người sưu tầm được câu đối nói về nguồn gốc họ Trương Việt Nam GPT phiên âm dịch nghĩa

Bà Hoàng Thị Tùng (vợ Ông Tam) sinh 13/3/1949 quê ở Kỳ Anh là giáo viên tiểu học từ 1968 -1993 nghỉ hưu , xét về mặt thành tích thì không có gì đáng kể Bà cũng có được 1 cái huy chương KCCMCN hạng 3 do bị thất lạc nên kg được hưởng quyền lợi ngì có công . Bà là ngươi phụ nữ về trí tuệ cũng tạm tạm , xinh xẻo , tính tình vui vẽ hoạt bát , nhanh nhẹn... biết chăm lo vun vén cho gia đình luôn có cuộc sống khi nào cũng đủ đầy kể cả thời kỳ bao cấp trong nhà có lúa gạo nhiều giáp hạt cho người ta vay ăn đói đến mùa lấy lãi từ 1 thành 1,2 . Về hưu mở quán bán hàng vặt cho đến Côvits thì nghỉ kiếm được nhiều tiền năm 2000 mua được cái xe máy gần 30 triệu ... Vậy mà năm 2003 Bà Châu có bán một tý đất của Cố Cầm đứng tên Bà Châu đươc hơn 150 triệu chia 5 phát 7 Cháu Hậu không đến phần Bà Tùng cho Ông Tam đứng ngồi không yên . Cố Cầm hết khó 2017 làm cái mộ hết hơn 12 triệu chia cho 5 anh em chịu đều Bác Hải thì chết đi rồi Cháu Quốc thì cả nhà tập trung ngoài Hà Nội cấp cứu Bà Châu thập tử nhất sinh nên phần Cháu Quốc Bà Tùng tạm thời bỏ ra Ông Tam nói ta chịu đi cho cháu vì Cô và các Chú từ Sài Gòn ra tốn kém nhiều đừng bắt cô chú chịu nữa vậy mà Bà Tùng không nghe , Cố Cầm mừng thọ tuổi 80 năm 1999 Bà Tùng ở nhà vào mừng thọ Cố 10.000 đồng Ông Tam nói mừng ít thế Bà cảm ơn đi chứ lấy làm chi Cố Cầm nói lại 10.000 cũng quý chứ còn hơn nó không vào thì sao nữa ; tại thời điểm đó cố mới có hai chắt là cháu Bà Tùng , chắt mà vào ít nhất Cố cũng mừng tuổi cho mỗi Chắt dăm chục . Họ có 3 cái nhà thờ Họ chi , Họ con , Họ lớn mỗi năm ít nhất cũng 1 lần về khi họ có công thế mà chưa một lần bỏ 1 đồng vào hòm công đức , trong khi đó Cố Cầm chưa ai đi Họ Cố đã đi , chưa ai bỏ hòm công đức thì Cố đã bỏ ít thì vài ba chục nhiều thì có khi cả trăm ngàn . Bà Tùng nhỏ nhen , hẹp hòi, ti tiểu...ít thơm thảo với bất cứ ai kể cả hành khất vào nhà xin ; ngược lại cháu Khải khi ra cổng phụ siêu thị BMC người khuyết tật ngả mũ xin những người có tiền lẻ còn cầm trên tay mà nhà xe vừa phụ cho , mà Ông Nội thì không có nên không có cho ! Khải còn hỏi Ông có biết vì sao người ta lại phải đi xin như thế không?... Người ta đã xin là phải cho , nên mặc dầu đã sang bên kia đường rồi còn bắt Ông dừng xe rồi quay lại bỏ vào mũ Ông khuyết tật ấy 20.000 đồng có sẳn trong người ; nộp tiền ủng hộ người nghèo Bà nộp mức thấp nhất đã được quy định , có lần cả tổ dân phố mỗi mình Bà nộp mức ấy mà loa thì chỉa thẳng vào nhà nói ngày này qua ngày khác "Ông Bà Hà Tùng 20.000 ngàn đồng" Ông Tam thẹn đỏ mặt ; may mà Hậu không nghe , trong khi đó người nhiều nhất 300.000 ngàn đồng từ đó Ông Tam không cho tổ trưởng liên gia thu tiền đó qua Bà Tùng nữa (riêng con cháu trong tay mình thì Bà lại rất thơm thảo) , khùng tính , thiếu đảm đang ,vụng về , luộm thuộm , công tác nội trợ thì hơi yếu , tằn tiện , rất cảnh giác với kẻ gian , nõ dịu dàng , nõ biết sợ ai và cũng nõ chịu thua kém chi ai...Đúng là KM - là STHĐ ; dân gian có câu : "Đức hiền tại Mậu , trắng gạo ngon cơm" thì rất tiếc là Bà Tùng lại không làm được điều đó . Nói tóm lại những đức tính gì mà Bà Tùng có thì Ông Tam không có , quy luật bù trừ thế gian đã đúc kết "được vợ mất chồng". May mà con cái trong gia đình hoàn toàn 100% giống Cha , giống Bà Nội . Ông Tam lấy Bà Tùng năm 1970 nhằm ngày 12/6 âl sinh được 5 người con 3 gái , 2 trai (nuôi một) con gái nối nghiệp cha mẹ , vợ chồng con trai út làm ngân hàng chồng có chức danh - Giám Đốc chi nhánh ngân hàng ACB ở Kỳ Anh từ năm 2019 . Đến tháng 8/2024 thì chuyển vào Quảng Bình mở ngân hàng mới, đến tháng 6/2026 được trở lại Hà Tĩnh làm GĐ ngân hàng Việt Nam thịnh vượng chi nhánh . Vừa nội vừa ngoại ông bà có 9 cháu 7 ngoại , 2 nội , cháu Quỳnh Trâm lớn tuổi nhất sinh 1995 là BS nội trú khoa Chẩn Đoán Hình Ảnh - Công tác tại BV Bạch Mai . Cháu chưa xây dựng gia đình , cháu Hồng Quân sinh 1998 làm ngân hàng Ngoại Thương quận Hải Châu TP Đà Nẵng . Vợ là Đức Hạnh cùng tuổi quê huyện Thăng Bình Quảng Nam làm Hải Quan TP đã có 1 con trai đầu lòng (Tính đến cuối năm 2024)

Nhích chuột vào số 63 cho kết quả Bát thế húy Cầm là thân sinh Tôi ; nhích chuột tiếp vào số 51 cho kết quả Hiển Tổ húy Đỉnh là Ông Nội Tôi ; nhích chuột tiếp vào số 51 nữa cho kết quả Tằng Tổ húy Ân là Cố Nội Tôi ; nhích chuột tiếp vào số 36 cho kết quả Cao Tổ húy Miễn là Can Tôi ...

Sau đây là những thành quả mà ÔngTam đã gặt hái được :


BÀI THƠ : KÍNH DÂNG HƯƠNG HÔN MẸ
(Viết xong khi mẹ Ông Tam mất 12 ngày)

Nam mô A Di Đà Phật !
Nam mô A Di Đà Phật !
Nam mô A Di Đà Phật !

Than ôi !

Con vẫn biết rằng mệnh trời khó cưởng ,
Cỏi âm dương cách trở khôn lường .
Con vẫn cầu chín hướng mười phương ,
Mong cho Mẹ sống được thêm nhiều năm nữa ,
Cho dâu con phụng dưỡng tuổi già ,
Cho Mẹ được hưởng tròn bách tuế ,
Cho cháu chắt được hưởng lộc trời ban ,
Được Vua(1) trao áo lụa và tặng quà ,
Cho gia tộc muôn đời vinh hạnh ,
Cho Con được chỉnh tu điều ăn lẽ ở ,
Chẳng để ai trách quở vô tâm ,
Cho ấm êm giường nệm Mẹ nằm ,
Cho trọn đêm Mẹ tròn giấc ngủ .

Nào ngờ đâu Mẹ đã vội vã ra đi
Cho kịp ngày Ngưu Lang Chức Nữ (2)
Nên Con không kịp trở tay đưa Mẹ về bên nhà ,
Mà khi còn sống Mẹ đã dặn đi dặn lại .

Con thấy lòng mình xao xuyến Mẹ ơi !

Mẹ bao dung độ lượng một đời ,
Chắc giờ Mẹ đã ngậm cười nơi chín suối (3) .
Con xin trời được sống thêm mươi tuổi ,
Tu cho đời trọn đạo làm con .

Chốn dương gian Mẹ đã không còn ,
Giờ hồn Mẹ đi về đâu hởi mẹ?

Càng ngẫm nghĩ Con thấy tâm can chà xát
Với những lỗi lầm Con phải ăn năn .
Nhớ những lúc Mẹ hờn dỗi bỏ ăn ,
Con bảo Mẹ hai lần con nít .
Con vô tâm nào đâu có biết
Mẹ khóc thầm ứa lệ vào trong .

Để đến hôm nay sức kiệt Mẹ nằm ,
Mắt Mẹ nhắm mà hai làn lệ ứa .
Đã bảy tám tháng trời Mẹ không nói nữa ,
Con biết rồi cũng đã đến ngày cách trở đôi nơi .

Mẹ tin Con tin cả một đời
Con sẽ hiểu những lời Mẹ nói .
Giờ Mẹ đã về nơi chín suối ,
Con muốn chuộc lỗi lầm thì không còn Mẹ nữa Mẹ ơi !

Nhớ những lúc trái gió trở trời ,
Bệnh sản về già Mẹ ngồi ho rũ rượi .
Con biết Mẹ toàn thân nhức mỏi ,
Nhưng Con đã làm gì cho Mẹ đở đau đâu ?

Thang thuốc bắc chẳng đáng là bao ,
Mẹ muốn uống mà tiền thì thiếu (4) .
Vậy mà của trong nhà Mẹ đem cho đem biếu ,
Con cạn lòng có hiểu gì đâu ?

Việc Mẹ làm để lại phúc cho mai sau ,
Cho cháu chắt chồi xanh lộc biếc .

Con cứ nghĩ mình là tài ba tháo vát ,
Từng đi nhiều hiểu biết nông sâu .
Con đã từng làm thầy ở những trường đứng đầu ,
Sống kiên trường(5) được bạn trò nể trọng .

Nên về nhà giám coi thường cả Mẹ ,
Việc gia đình chẳng để Mẹ tham gia .
Tự cho mình là thẩm phán quan tòa ,
Quyết mọi việc nóng như lửa đốt .
Không mời Mẹ tham gia chính cuộc ,
Mẹ ngồi im lặng nuốt quặn đau .

Phận làm con chữ Hiếu làm đầu ,
Giờ nghĩ lại mà lòng đau như xé .
Hiểu ra được thì không còn Mẹ ,
Con chắp tay vái chín phương trời ,
Nói với Mẹ những điều xám hối .

Đời Mẹ nghèo ba chìm bảy nỗi ,
Từ tuổi thơ cho đến tận già .
Lên sáu tuổi cha mất trong một hoàn cảnh thật đáng thương tâm ,
Nên "mẹ con" phải quay về sống cùng Bà Ngoại ,
Ở nương cửa người suốt cả tuổi xuân .

Lớn lên lấy chồng gặp nơi cùng gia cảnh :
Cha cũng không còn, anh em trai thì cùng cha khác mẹ ,
Chị gái lại cùng mẹ khác cha .
Ruộng vườn đã không mà nhà cửa cũng chưa có .

Bốn bàn tay không gây dựng cơ đồ !
Vất vã gian truân biết mấy ,
Lại chín lần sinh con thì ba lần sa sẩy .

Những tưởng rằng sông có khúc, người có lúc ,
Trẻ mà lận đận chắc rồi về già sung sướng .
Nào ngờ đâu cha Con mất khi mới về hưu .

Lúc đó chưa có chế độ hưởng tuất cho Mẹ kiếm đồng .
Chị chết trẻ, Cháu mồ côi Bà đưa về nuôi dạy .
Anh con bao năm tham gia ở chiến trường Miền Đông Nam Bộ ,
Hết chiến tranh đưa về cho Mẹ một tấm thân tàn ma dại ,
Cùng với một loạt hoạt huân huy chương, bằng khen đủ loại...

Giao cho vợ đùm bọc , gọn gàng giữ cất cẩn thận ,
Vậy mà sao chẳng thấy có chế độ chi .

Hể mỗi lần anh đi nhận tiền trợ cấp hàng tháng ,
Người ta thì được tiền nghìn tiền vạn ,
Lại còn thêm cả tiền chất độc gia cam, và tiền thương binh giả .
Con còn mình chỉ được tiền đồng tiền hào .

Mẹ thương anh van khóc cháy gan cháy ruột .
Rồi anh Con mất (13/12/1992) ,
Khi còn 17 ngày nữa mới được hưởng hạn 53 .

Hỏi "Ông Trời"
Mẹ Tôi có tội tình chi
Mà sao Ông nỡ làm tội, làm tình Mẹ Tôi đến thế ?
.
Vốn liếng dành dụm lâu nay Mẹ không có ,
Biết lấy gì hộ với "mẹ con" nó đây?

Con thì đông mà chẳng có đứa nào khá giả ,
Đứa ở gần cũng như đưa ở xa .
Huy động các con hộ vào đây chắc là không được .

Thôi thì suốt ngày cũng như đêm ,
Mẹ chỉ biết luôn chân luôn tay ,
Làm những việc mà Cháu,Dâu không làm xuể .

Mùa về thì còng lưng ngồi rứt từng sào lạc ,
Phơi, sảy, giê (7) cả đống thóc trong nhà .
Đống rơm chưa phơi, sào toóc chưa xách lên bờ Mẹ cũng làm cho rối .
Sợ đông về bò đóng trong ràn không đủ ăn no .

Bòn từng sảo lá khô, nhặt từng nhánh củi dè (6) ,
Thêm vào đun nồi cháo lợn để đỡ tiền mua củi .
Lúc nhàn rỗi thì ra vườn cuốc xới ,
Cơm Cháu dọn ra rồi mà gọi mãi Bà không vô .

Làm việc chi cũng thích khen ưa nịnh ,
Và cũng chẳng bao giờ chịu thua Con thua Cháu .

Đương thời nết gia phong Cha Con thật thà như đếm ,
Mẹ ghồng lưng lo chuyện ruộng nương .
Tổ đổi công đến thời hợp tác ,
Mẹ hăng say công việc dân giao (8) .

Tính thẳng ngay lòng dạ sáng sao .
Chí của Mẹ muốn vào với Đảng .(và rồi cũng không vào được)

Mẹ thảo thơm nên lắm phường nhiều bạn ,
Tắt lửa tối đèn hoạn nạn có nhau .
Lấy chữ "Tâm" chữ "Tín" làm đầu ,
Việc Họ, việc Làng Mẹ ôm bao cả .

Giỗ Cố Ân tháng nào, kỵ Ông Bà Phó Chắt ngày mấy ?
Sợ Cháu Con quên Mẹ nhắc trước cả tuần .

Với bà con họ hàng gần ,
Ai mất lúc nào Mẹ cũng nhớ nhập tâm .
Làm công đức cho Tổ Tiên thì Mẹ không bao giờ thiếu .

Việc hiếu hỹ bà con lối xóm ,
Con Cháu muốn đi thay Mẹ cũng không cho .
Và nếu đi rồi thì Mẹ vẫn đi phần của Mẹ .

Lúc còn trẻ Mẹ thích tham gia công việc ngoài xã hội ,
Nên về già Mẹ hiểu cho Dâu .
Thích Dâu mình đi ra cho bằng bạn bằng bầu ,
Để lấy tiềng thơm về cho "Nhà Hải" .

Suốt một đời bữa ăn Mẹ không hề đòi hỏi .
Có đồng quà tấm bánh ai biếu ai cho dù ít dù nhiều ,
Bà chẵng nỡ ngồi ăn một chắc .

Gắp cho đứa ni một chút, sớt cho đưa kia một ti ,
Làm một hồi rồi mình chẳng còn gì .
Có như thế thì Bà mới sướng bụng .

Em Con bảo: " Vừa dâu, vừa rễ 28 đứa cháu chứ có phải ít đâu,
Sao chỉ thấy Bà nhắc mỗi mình Nga và Quốc" ?

Phận làm anh không biết tìm điều lý giải ,
Còn phụ họa vào để em hiểu sai về Mẹ .

Con cúi van xin ngàn lần Mẹ tha thứ cho .
Riêng phần Con thì Mẹ đừng có lo ,
Bởi gần đây Con phải chịu đôi điều thất thiệt .

Nào có phải ai khác đâu,
Mà chỉ có anh em Nội Thân và những người mắt trần(9) trong Dòng Tộc .
Họ cứ bảo rằng :" uống rượu vào say cho lắm ..."

Nhưng Con say vì say nghĩa, say tình ,
Say với những gì mà Con đang tri ân cho Tiên Tổ .

Sẳn có thời gian nhàn rỗi ngồi trong phòng với Mẹ ,
Con hoàn tất việc làm gia phả, phả đồ
Với đề tài Con đã nung nấu mười mấy năm nay .

Tiếp sức chung tay có Bác Mậu dẫn đường ,
Lại được Tổ Tiên phù trì bảo hộ .
Con đã hoàn thành những việc mà Tổ Tiên giao phó .

Hỏi thử thế gian này đã mấy ai làm được ?

Theo ba cuốn gia phả Hán Nôm mà Tổ Tiên để lại ,
Trên ba trăm ba mươi năm chứ có phải ít đâu .
Đã có mười đời và ba thế hệ ,
Số "đinh" và "cô" đã quá bảy trăm .

Nếu tính cả Tức (10) nữa là vừa ngót nghìn hai .
Vậy mà ai sinh ra ai Con biết rõ ngọn ngành .

Rồi ngồi sắp xếp lại theo thế, thứ, vị, tường cẩn thận :
Phần mộ ở đâu, năm sinh, ngày, tháng giỗ ?
Xưng hô rõ ràng như muôn Họ đã từng xưng .

Lập phả đồ tối ưu cho việc tra cứu từng cá thể ,
Chuyển tải nội dung lên trang mạng rõ ràng ,
Và chọn nơi lưu giữ ngàn năm cho dòng tộc .

Để các thế hệ mai sau dù ở xa hay ở gần đều biết
Tìm về cội nguồn mà hướng tới tương lai .

Nếu ai đó có đủ sức đủ tài ,
Thì đặng góp phần tôn vinh cho Dòng Tộc .

Còn ai phê phán gì thì Con bất chấp ,
Bởi Họ biết chi về những việc Con đang làm .
Thậm chí Con làm rồi Họ cũng không biết tìm, biết đọc ,
Không phải sẵn mồm mà muốn nói chi thì nói .

Con không hơi đâu mà bận tâm với những gì hiện tại .
Mà Con đang lo dăm sáu chục năm sau .

Khi nói đến Họ Trương Quang ở làng Phú Hào (xưa),
Thì cả Họ không một ai biết gì về cuội nguồn gốc rễ .
.
Cảm ơn Mẹ đã sinh ra Con đủ sức đủ tài .
Cảm ơn Tổ Tiên đã phù trì bảo hộ ,
Chắp cánh cho Con hoàn thành được những ước mơ .

Sáu mươi chín xuân qua nay Con thật sự đã trưởng thành .
Quà tặng Mẹ mang về nơi chín suối !


Ô hô hô .... Ô hô hô ... Ô hô hô...
Mẹ ơi là hởi Mẹ ... Mẹ ơi là hởi Mẹ ...
Nam mô A Di Đà Phật !
Nam mô A Di Đà Phật !
Nam mô A Di Đà Phật !
Cảm cáo !
Chú thích:
(1) Vua : Là chủ tịch nước bây giờ
(2)Ngưu Lang, Chức Nữ: Mẹ mất 3 giờ ngày 7 tháng 7 âm lịch
(3) : Mẹ mất được 12 ngày thì Tôi hoàn tất bài viết này
(4)Thiếu :Tiền đưa cho Mẹ mua thuốc Mẹ lại đem cho người khác
(5) Kiên trường : Là đức tính của Chúa
(6) giê : Là dội trước gió cho bay hết bui và thóc lép
(7) Dè:củi tre
(8) Dân giao: Một khóa hội đồng nhân dân xã , cán bộ phụ nữ xã , ũy viên cữa hàng mua bán htx , cán bộ phụ nữ xóm
(9) Mắt trần : Là những người nhìn hiện tượng mà không biết bản chất
(10) Tức : là con dâu của họ

BÀI THƠ RU CHÁU (Viết khi Cháu Khải được 3 tháng tuổi)

Cu Bi ngoan lắm Bà ơi
Bú no ngủ kỵ, dậy pha lắm trò
Gồng lưng , nhếch mép, nhiu mày
Xem ra sau lớn nghề này giống Cha .
Canh Dần chọn năm chui ra
Tên Bố Mẹ đặt Ông tra(1) quẻ đời
Ông mừng cho Cháu Bi ơi
Hoa nào trái ấy luật nhân quả mà !
Cu Bi niềm vui của Ta
Như thang thuốc bổ cả nhà dùng chung
Lớn lên Ông những ước mong
Chăm ngoan học giỏi tinh thông đường đời(2) .
Chữ Đức, chữ Hiếu, chữ Tài
Cả ba chữ ấy miệt mài luyện tu
Dẫu về chín suối nghìn thu
Bên Bi Ông vẫn hát ru ngọt ngào .
Chẵng mong chức trọng quyền cao
Chỉ mong Bi lớn mai sau nên Người !
Dù đi muôn dặm xa xôi
Nhớ về nguồn cội chiếc nôi Ông ru đầu đời .

Ngày 19 tháng 5 năm 2010
Ông Nội :
張Tê
光Qu
三Tê
Chú thích :
1> Cách gieo quẻ kinh dịch theo số nét chữ Hán
- Tìm quẻ chính :
Chử Trương (張) 11 nét : 8 dư 3 ; số 3 là quẻ Ly 離 làm quẻ trên
Chữ Quang (光) sáu nét + chữ Khải (啓) 11 nét = 17 chia 8 dư 1; số 1 là quẻ Càn 乾 làm quẻ dưới
Ly là quẻ trên ; Càn 乾 là quẻ dưới thì cháu Khải là quẻ Đại hữu (quẻ thứ 14) cùng quẻ với ông Nội quẻ này dùng để giải nghĩa
- Tìm quẻ biến :
Lấy 11 nét + 6 nét +11 nét = 28 nét chia 6 dư 4, 4 là vạch động . Quẻ Ly trên biến thành quẻ Cấn 艮 . Cấn làm quẻ trên ; Càn 乾 làm quẻ dưới = quẻ Đại Súc 大畜 (quẻ thứ 26) quẻ này dùng để luận
- Gieo quẻ đúng chưa đủ mà phải giải được quẻ thì mới luận được quẻ
2> Muốn tinh thông đường đời thì điểu kiện cần là Cháu phải sớm tiếp cận với kinh dịch


CÙNG SUY NGẪM

Có một điều ngày kia ta chắc chắn
Ai cũng đều tay trắng ra đi
Chẵng một ai mang theo được thứ gì
Cũng chẵng có cái kiếp sau, kiếp trước
Hỏi ai đó trong đời biết được
Ta là ai ? Trong tiền kiếp luân hồi
Ai sinh ra cũng chỉ một lần thôi !
Nên cố gắng sống những ngày tử tế .
Trên đỉnh cao quang vinh đừng ngạo nghễ
Bởi sa cơ mới thấy được lòng người.
Ai đến bên ta chia sẽ một nụ cười
Xua cay đắng cho ta ngày hạnh phúc
Đó là người ta luôn trân quý nhất !
Khắc ghi mãi trong ta không thể nào quên
Kẽ quay lưng bước vội chớ gọi tên
Ta đã sai khi coi họ là người bạn
Qua những ngày khó khăn hoạn nạn
Mới nhận ra họ cũng chỉ là bè
Ngồi ngẫm lại trong đời đầy hối tiếc
Điều mọi người rồi ai cũng biết
Những thứ phù du chỉ tạm thôi mà
Chúng chẵng bao giờ ở mãi bên ta
Chỉ có tình người ngàn năm còn mãi
Nhân nghĩa ngàn đời chẵng thể nào phai !
Vì thế cho nên dù bạn là ai ?
Cái "cốt lõi" phải là người tử tế
.

NGƯỜI KHÔN NGOAN NÊN NHỚ 7 ĐIỀU NÀY

1> Với một người không thích mình thì không cần quan tâm
2> Với một người không cùng quan điểm thì không cần tranh cãi
3> Với một người thích thể hiện thì cứ để họ diễn
4> Với một người hay nói xấu sau lưng thì chỉ cần mĩn cười
5> Với chuyện không đáng chỉ cân im lặng
6> Với chuyện làm bản thân mệt mõi phải biết dừng đúng lúc
7> Với sự hơn thua vô nghĩa chọn cách sống nhẹ lòng
Người khôn không hơn người, chỉ là biết giữ tâm bình an là được !


KHÔNG NÊN TIẾP XÚC VỚI 7 LOẠI NGƯỜI

1> Tham lam có máu lạnh
2> Bạo lực về thể chất và tinh thần
3> Bòn rút thời gian và tiền bạc
4> Phân biệt đối xử
5> Sống cay nghiệt
6> Thường xuyên phê phán chê bai
7> Luôn muốn kiểm soát và áp đặt
" Con người chỉ hơn nhau ở nhân cách"


GỮI KÍN 9 ĐIỀU KHÔNG NÊN NÓI VỚI AI

1> Tài sản và thu nhập của mình
2> Không nói đau khổ của mình
3> Không nói xấu sau lưng người khác
4> Không nói chuyện tương lai quá sớm
5> Không kể công kể ơn
6> Không nói thất bại của mình
7> Không đưa chuyện trong nhà kể với người ngoài
8> Không nói điều tham vọng trước
9> Làm từ thiện không để ai biết


Bài thơ : NÓI VỚI TUỔI GIÀ

Mấy mươi năm mãi miết
Bươn chải theo với đời
Phần "oanh" đã hết rồi
Nay chỉ còn phần "liệt"

Biết răng (1) là hơn thiệt
Danh vọng - Cái phù vân
Của cải - Cái ngoài thân
Không có chi phải "xoắn" !

Giàu sang , ngày ba bận
Nhà rộng , một chổ nằm
Ăn được mới là mong
Ngủ ngon là đáng sống

Ham chi nhà to rộng
Quét dọn phải thuê người
Lắm của mà ốm đau
Ăn món chi cũng ngán

Đừng chi ly , tính toán
Đừng ôm oán , chuốc hờn
Đừng so sánh , thiệt hơn
Sống vô tư đơn giản !

Ông trời đã ban phát
Chẵng cho ai mười phần
Có người khỏe - ngu đần
Có người giàu - đoãn thọ

Nên quý cái mình có
Bỏ hết thứ viễn vông
Khỏe thì họ nằm "dọc"
Nhọc mình cứ nằm "ngang"

Họ giàu , họ chơi sang
Mình nghèo ,mình tiết kiệm
Thích "bơi" họ xuống biển
Thích "trèo" mình lên non

Răng tốt - đồ "cứng, giòn"
Răng yếu - ta ăn "súp"
Sức khỏe là số một
Phải cố gắng chăm lo

Tuổi già như đồ cỗ
Rệu rạo theo thời gian
Đừng than thở , phàn nàn
Tiểu đường hay áp huyết...

Bao nhiêu thứ phức tạp !
Sống chung với nó mà
Thế mới là tuổi già
Có chi mà phải "chấp"

Bạn bè kêu tụ tập
Thì cứ đén ngại chi
Đừng thua được , so bì
Cho tâm hồn thư thái !

Cả đời vì con cái
Nay để chúng tự lo
Cuộc sống sẽ dạy cho
Đúng sai và phải trái

Sức mô (3) mà lo mãi
Khi ví dẹp , lưng còng
Báo hiếu - chớ chờ mong
Cứ ung dung tự tại !

Nõ (2) ai sống được mãi
Quy luật của muôn đời
Khi hết cuộc dạo chơi
Ra đi là thanh thản !

Mỗi năm vài ba bận
Về "ngắm" gà , "ngữi" hương
Ngẫm lại chuyện đoạn trường
Không có chi hối hận !

Tết Quý Mão - 2023


Bài thơ : CON GÁI HỌ TRƯƠNG

Em là con gái họ Trương
Có ưng thì lấy;sợ ương thì đừng !
Nói năng thường vậy thẳng thừng
Còn làm ăn chẵng lừng khừng chút mô .
Việc nhà chồng dẫu nhỏ to
Nuôi con giổ chạp thảy lo chu toàn
Nính nhịn lại biết khéo can
Bằng không thì cũng bất an cả nhà .
Nói ra như thể để mà
Chiều Em một chút thế là êm xuôi !
Con gái họ Trương bầy tui
Ương rồi lạị chín ngọt bùi về sau
Có ưng thì nói cho mau
Kẻo mai trầu héo trái cau rụng buồn !
Trải lòng con gái họ Trương
Để nam nhi ở mọi phường cùng hay .



GẶP MẶT KHÓA 11 TOÁN TẠI QUẢNG BÌNH


Năm nay gặp mặt Quảng Bình
Mười mấy phụ lão khóa mình vẫn vui.
Toàn khóa hơn hai trăm người
Lần này chưa được phần mười gặp nhau.
Hơn chục người đang ốm đau
Bốn tư người đã từ lâu về trời.
Một người vừa mới đây thôi
Là anh bạn Tới đã rời cõi dương.
Anh em trú ngụ mười phương
Tuổi già đã đến, đoạn đường lại xa.
Có người chân chậm mắt hoa
Có người trái gió thế là ủ ê
Có người công việc bề bề
Cha già, mẹ yếu trăm bề khó khăn.
Tuổi mẹ cha đã ngót trăm
Nhiều cụ giờ đã ăn nằm một nơi.
Lòng nào còn muốn vui chơi
Trong khi bố mẹ cầm hơi thế này.
Cũng có mấy cụ xưa nay
Cái khoản họp mặt bắt tay không ngiền.
Vừa mất công, vừa tốn tiền
Vừa phải xin phép quá phiền nên thôi.
Bây giờ tuổi cũng cao rồi
Lo thân là chính, vui chơi vừa vừa.
Thời gian, tiền bạc có thừa
Dành cho khi nắng, khi mưa thiệt gì.
Ai đi được thì cứ đi
Ai có hoàn cảnh chẳng bì, chẳng so.
Chuyện nhà ai người ấy lo
Bạn học gặp lại để cho vui vầy
Để hàn huyên nhớ một thời
Đồng cam cộng khổ ở nơi học hành.
Hết Quỳnh Lưu đến Yên Thành
Hòa bình lập lại về thành phố Vinh.
Năm người bạn đã hy sinh
Mấy chục vào lính tung hoành khắp nơi.
Khi hòa bình lập lại rồi
Mỗi người một ngã cuộc đời đẩy xô.
Có người làm thầy làm cô
Người làm kinh tế tiền đồ đổi thay
Người làm lính đến hôm nay
Người làm quản lí khua tay to mồm.
Lại có người nghỉ việc luôn
Thích gì làm nấy chẳng buồn quan tâm.
Thỉnh thoảng gặp nhau một làn
Bao nhiêu là chuyện xoay vần tuôn ra.
Nhắn đến mấy ông mấy bà
Đến Quảng Bình được đã là niềm vui.
Hát hò nhảy múa tung trời
Năm sau lại hẹn một nơi sum vầy.
( Cê-Tê-Tê )





BÀI THƠ : THƯ CỦA CON NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM (CHÁU KHẢI) GỬI CHỦ TỊCH TRUNG QUỐC - TẬP CẬN BÌNH


Ông ơi Cháu(1) ở Việt Nam
Muốn gặp Ông không được biết làm sao đây?
Thư này Cháu viết tỏ bày
Mong Ông đọc những lời này Ông ơi !
Từ đất liền tới biển khơi
Biên giới hai nước rạch ròi từ lâu
Nước Ông bằng cả Châu Âu
Dân Ông lại đứng hàng đầu thế gian
Vậy mà có mấy giàn khoan,
Tham dầu Ông cứ tính toan mưu bày
Ngư dân nước Việt đắng cay
Vì tầu hải giám ngày ngày đâm va
Sáu tư chiến sỹ Gạc- Ma
Hy sinh để giữ đảo nhà bình yên
Trên bờ gây rối triền miên
Vẫn còn máu chảy vùng biên non nhà
Ông Cháu - Chiến sỹ Trường Sa
Hy sinh anh dũng máu hoà biển khơi
Rồi khi Cháu được ra đời
Là Cha cầm súng giữ trời biên cương
Ngày đêm dầu dãi gió sương
Vẫn luôn kiên định ngoan cường vượt qua
Cha Cháu hiền lắm Ông à
Vì Ông xâm lược mới ra chiến trường
Cha, Mẹ xa cách đôi đường
Chỉ mong đoàn tụ yêu thương sum vầy
Chiến tranh loạn lạc đắng cay
Bao người ngã xuống đất này được chi
Trẻ em nước mắt tràn mi,
Mất Cha, mất Mẹ sướng gì hả Ông?
Máu chảy đỏ suối, đỏ sông
Người dân hai nước cũng không sướng gì
Bành trướng nước lớn mà chi ?
Việt Nam đâu có biết quỳ thưa Ông !
Thư này thành kính Cháu mong
Ông suy nghĩ lại cho lòng thảnh thơi
Sơn Hà hoạch định do Trời
Việt Nam thoả hiệp - Ông đừng có mơ !
Ông ơi tức nước vỡ bờ
Khi cần Cháu cũng phất cờ xông lên
Mỗi khi Tổ quốc gọi tên
Thì Con người lính (2) sẽ quên thân mình
Gần nhau quý trọng chữ tình
Hãy nên gìn giữ hoà bình Việt - Trung !

chú thích:(1) Ông nội-Ông Tam làm thay cho cháu Khải
(2) Con của người lính,ý nói Khải là con của Bố Hậu


BÀI THƠ NGƯỜI CÔ YÊU QUÝ
(Cháu Khải làm lúc học lớp ba)

Người Cô yêu quý.
Dạy dỗ chúng em,
Từng ly,từng tý,
Mọi lời,mọi ý,
Càng sâu càng kỹ.

Dạy ăn,dạy nói
Dạy gói,dạy mở
Dạy chữ,dạy người
Như người mẹ hiền
Nâng niu trìu mến.

Dạy môn tập viết :
Cô viết đẹp lắm !
Không tẩy,không xóa
Như bức tranh tường
Em viết theo Cô
Điểm mười, điểm chín.

Dạy toán cũng thế :
Cô hướng dẫn kỹ
Trò suy nghĩ sâu
Tìm ra đáp án
Xoa đầu Cô khen.

Nhân ngày Nhà Giáo
Em vẽ bức tranh
Tặng Cô Giáo hiền
Cô cười rạng rỡ
Má hồng như hoa.

SỐ PHẬN MỘT BÀI PHÚ

Trương Quang Tam

Y sao tại tờ báo " Người GVND" số: 49 - 895 ngày 05/12/1988.
Nhân ngày 20/11/1986 Tôi đọc bài phú Thầy "Hiệu"Về Hưu trong một buổi lễ ở Thị xã Hà Tĩnh có khách quan đến dự... Sau buổi lễ Tôi bị công an phường chặn lại , lấy hết số sách trong túi xách trong đó có bản chép tay bài phú này chữ của Tôi và bị công an Thị xã Hà Tĩnh triệu tập lên làm việc ở bộ phận an ninh Liên Khu 4, thời gian 5 buổi để viết bản kiểm điểm ( có 2 buổi phái bỏ giờ dạy). Xin mời các bạn đọc bài phú để phán xét sai lầm của Tôi ?

THẦY "HIỆU" VỀ HƯU

Thầy Hiệu ta:
Người đất Hồng Lam chính làng quê Mộ
Cũng dòng dõi Cha Ông vốn con nhà Thi Lễ
Thuở nhỏ theo đòi nghiên bút , Chữ Tây , Tiếng Việt làn làu
Lớn lên tìm kế sinh nhai , Chữ Nhật , Chữ Tàu lổ đổ .
Tuổi 19 tham gia khởi nghĩa tự nhiên thành cán bộ như ai
Đến 20 được tuyển vào ngành bỗng chốc hóa Ông Thầy từ đó !
Nào Hiệu Trưởng , nào Công Đoàn
Nào Quản Lý , nào Thi Đua
Đã nổi danh tài sắc một thời
Lúc Can Lộc - Lúc Thạch Hà
Lúc Đức Thọ - Lúc Thành Vinh
Đâu xá kể tuyết sương mấy độ
Bốn mươi năm gắn bó với ngành
Sáu mươi tuổi về hưu cuối sổ ?
Những tưởng tuổi nhiều , sức giảm
Xin về hưu hưởng đôi chút thanh nhàn
Nào ngờ vật giá leo thang
Lúc nghỉ việc gặp bao điều gian khó
Này xem : Một chiếc xe tàn , ba gian lều cỏ
Đêm mưa ôm màn , chiếu chạy vòng quanh
Trưa nắng ngắm mây trời qua lỗ nhỏ
Đài thu thanh muốn nghe không có
Sang nhà bên ngồi chạc mãi thêm rầy
Báo tập san thích đọc khó mua
Đến bạn hữu hỏi mượn hoài thêm hổ !
Gạo mười ba cân một tháng
Hao xuôi hút ngược buộc bụng không no
Lương mỗi tháng nhận một kỳ
Vay trước lĩnh sau còng lưng trả nợ
Thường đến bữa rau ria tự túc
Cái tôm , cái tép ít dùng
Sớm lại chiều : Cà nhút nhì nhằng
Con cá , con cua hiếm có
Nghề mọn trong tay không biết
Bực mình khi thiếu tiền tiêu
Văn chương chữ nghĩa có "thừa"
Ngán nỗi ai dùng thứ đó ?
Yêu biết mấy "thân cò" lặn lội
Cả một đời chạy chợ nuôi chồng
Thương làm sao thằng bé mới sinh sau
Chưa mấy tuổi đã biết nhường cơm cho Bố
Số như thế phận đành như thế
Trách chi ai mà oán dận chi ai
Phận đã đành nhưng dạ chưa đành
Nói không dở ; không nói ra cũng dở
Nghĩ mình như quả chanh vắt kiệt
Còn nước chi thà vứt quách đi cho xong
Đành như chiếc áo đã lỗi thời
Mặc không hợp nhưng bỏ đi chưa nỡ
Nhiều lúc lo quanh tính khuẩn
Khoanh tay nhìn con tạo xoay vần
Lắm lúc nghĩ vẫn nghĩ vơ , ngẩng cổ đợi trời xanh phù hộ
Trời thì cao lồng lộng , gió hắt hiu đâu tỏa khắp mọi nhà
Đất bạc phau phau , mưa nhỏ giọt
Thấm sao từng ngọn cỏ
Vào tiết cuối thu giữa mùa mưa gió
Tiền trong túi cạn xu gạo chạy vay nhiều bữa
Văng vẳng bên tai lời than bần nhỡ
Viết vội vài dòng tâm đắc không văn cứ gọi rằng văn
Ngọt ngào phong vị Hàn Nho
Thảo nhanh mấy nét tương đồng
Không ra phú cứ tạm coi là phú
Bạn có đọc đồng thanh , đồng chí
Xin nhận đây một tấm chân tình
Người nào xem mà bắt nhặt , bắt khoan
Tôi xin chịu những điều thất thế ./.

Tác giả:Thầy Trương Duy Hinh Bính Dần niên (1926)





BÀI THƠ HUÂN CHƯƠNG

Tôi chưa bao giờ đeo huân chương
Lí do: Nếu được cấp huân chương
Thì ở chiến trường nhiều người còn xứng đáng hơn tôi
Vài cái huân chương từ thuở chiến tranh xa xôi
Ai ở chiến trường sống trở về mà chẳng có
Tấm huân chương màu rực lửa
Đưa ta về một thời đổ máu đau thương
Nếu phải đeo huân chương thì
Hãy xin dành cho những ai còn nằm lại ở chiến trường
Còn Tôi, Tôi đã có mọi điều hơn mọi thứ huân chương
Đó là: Được về sống giữa đời thường, hàng tháng có lương hưu
Và khi chết thì không còn cáo phó hưởng dương.
(Viết nhân ngày trở về Điện Biên với các cựu chiến binh ở phường Trần Phú- tp Hà Tĩnh)

BÀI THƠ THƯƠNG BINH (Viết 27/7/1992)

Có người hỏi (1) sao Anh không làm Thương Binh
Tôi trả lời nhẹ tênh Anh không làm Thương Binh
Bởi một lẽ thường tình Anh không phải là Thương Binh
Anh có mấy năm đi qua chiến tranh (5 năm 7 tháng)
Chỉ cần hai người làm chứng là được hưởng chế độ (2) Thương Binh
73 ánh mắt của các liệt sĩ trường Vinh ( vừa thầy vừa bạn)
được điều động vào Nam với Anh một lần (1/1972)
Vẫn còn sáng lung linh.
Nếu Anh làm Thương Binh Họ sẽ bảo " mày" là thằng kẻ cắp sau chiến tranh.
Anh đã nói thế thì thôi !

Chú thích :
(1) Bà Sử thị Lan phó phòng thương binh xã hội huyện Thạch Hà
(người yêu cũ)
(2) Nếu làm thương binh hạng 4/1 thì mỗi tháng được 200.000 đồng


BÀI THƠ MỜI RƯỢU BÌNH MINH

Chén này xin gắng gượng thêm
Cho đau khổ lặn, cho phiền muộn tan
Mai sau tới cõi niết bàn
Biết đâu? Lại được say tràn cung mây!
Rượu trần vừa ngọt vừa cay
Ước gì tít một lần say ước gì (Tít)

Thương nhau như bát nước đầy
Có say giờ cũng chỉ say với mình!
Than ôi! Cái giống hữu tình (Tự Thán)
Thịt xương giẫu nát tâm linh hãy còn
Rượu hồng tưới ngọn cỏ non
Mai sau trữu quả bồ hòn ngậm riêng (Nhân Quả)
Trót sinh ra để yêu thương
Xòe tay nhặt hết hạt buồn gần xa (khoảng riêngTôi)

Mai sau từ giã cõi đời
Biết đâu? Tìm được chính Tôi bây giờ! (Ước)

MỘT SỐ Ý TỰ RÚT RA TỪ CUỘC SỐNG

Lâu đài đổ bóng sông trôi,
Nghìn Thu, thu lại trong đôi mắt gầy.

Ngu ngơ chạm phải ao làng,
Sen chưa kịp hái đã tàn trên tay.
(Quan niệm sống )
Trong bài thơ "Thời gian"của LQH là 2 câu thơ rất đẹp và giàu sức gợi. Chúng không chỉ nói về một khái niệm mà còn nói về sự trôi chảy nghiệt ngã của thời gian.

1>.Ngu ngơ chạm phải ao làng
"Ao Làng" Là hình ảnh quen thuộc của quê hương,tuổi thơ,những rung động đầu đời trong tâm hồn người Việt
."Chạm phải" Không phải là cố ý tìm kiếm mà là tình cờ bắt gặp.
."Ngu ngơ" Diễn tả trạng thái ngây thơ,non trẻ,chưa hiểu hết giá trị của những điều đang có.
Có thể hiểu rằng khi con người bất chợt quay lại ký ức tuổi trẻ,quê hương, mối tình đầu hay những ngày đẹp nhất của đời mình,thì tất cả hiện lên như một "Ao làng" thân thuộc. Nhưng lúc ấy ta mới nhận ra mình đã đi xa biết bao !

2>" Sen chưa kịp hái đã tàn trên tay "
Sen là vẽ đẹp của tinh khôi,của tình yêu, tuổi trẻ và những điều đẹp đẽ nhất. Điều đặc biết là nhà thơ không viết :
" Sen chưa kịp hái đã tàn"
Mà viết: " Đã tàn trên tay"
Nghĩa là tưởng như đã có được rồi, đã chạm tới rồi, nhưng vẫn không giữ được. Đây là ngịch lý đầy xót xa
. Chưa được hưởng hạnh phúc thì hạnh phúc đã đi qua .
.Chưa kịp yêu hết thì tuổi trẻ đã mất .
. Chưa kịp thực hiện những điều mong muốn thì thơi gian đã cuốn đi tất cả .

3> Giá trị nghệ thuật
Hai câu thơ sữ dụng liên tiếp những hình ảnh rất Việt :
. Ao làng
. Hoa sen
Nhưng ý nghĩa lại rất rộng lớn :
. Ao làng -> Kí ức
. Sen -> Tuổi trẻ ,tình yêu, vẽ đẹp của cuộc đời
. Sen tàn -> Sự hữu hạn của đời người.
Chỉ bằng 14 chữ thôi,nhà thơ đã diễn tả được cảm giác mà nhiều người chỉ cảm nhận rõ khi đã đi qua một quảng đời dài : Khi ta nhận ra giá trị một điều gì đó thì đôi khi thời gian giành cho nó đã không còn nữa.

Liên hệ với toàn bài :
Ngay sau hai câu thơ này nhà thơ kêu lên :
" Trái đất ơi ngược vòng quay
Cho ta nhặt lại cái ngày đầu tiên "
Đó là tiếng lòng của một người muốn quay ngược thời gian để trở về thuở ban đầu, bởi những gì đẹp nhất đã trôi qua quá nhanh .
Theo cảm nhận của Tôi (ông Tam) hai câu thơ này không chỉ là tình yêu mà còn nói về cả tuổi trẻ của con người.
"Sen chưa kịp hái đã tàn trên tay" là một trong những hình ảnh rất đắt .


Muốn tan vào cỏi vô thường!
Tiếc chưa đi hết con đường mình đi.

Hoàng hôn đốt trụi chân trời,
Biết còn đến kịp? Chính nơi mình tìm.
(Bất lực )

Thương thay một trái tim mù,
Phút giây ngộ nhận nghìn Thu vẩn còn.
(Ngộ nhận )

Trời là chổ dựa tinh thần ,đất là chổ vật chất: khi gặp
lổi lầm Họ thường úp mặt xuống tạ tội với quê hương.
Khi gặp tai bay nạn gió Họ oan khốc, Họ kêu lên: "Ối Trời Đất ơi "
(Đạo Việt Nam )

BÀI THƠ KHÓC MẸ !
(viết thay cho Cháu Quốc kịp thời khi đưa tang mẹ Cháu ra)


Nam mô a di đà phật !
Nam mô a di đà phật !
Nam mô a di đà phật !
Than ôi ! Gió thổi Huyên (1) bay Cháu Con ngơ ngác?
Mẹ,Bà ra đi vắng vẻ cõi trần gian
Để lại cho cháu con, anh em đau lòng luyến tiếc .
Ôi Mẹ, Bà ôi! Sao Mẹ vội dứt tình máu mủ?
Giọt Thiên Du (2) về chốn non bồng
Con còn đây, Con Cháu còn đây
Tình tư ân, tư nghĩa nặng dày
Sao Mẹ nỡ sớm dời xa về với Tiên Tổ ?
Cảnh vật đó Mẹ, Bà ơi ! Không còn nữa
Ai gây nên gió thảm mưa sầu ?
Cháu mất Bà, Con mất Mẹ yêu thương
Đau đớn lắm, vàng rơi đáy biển.
Ôi thương ôi ! Vội vàng chi thì cũng ít ngày nằm xuống
Để con cháu, anh em túc trực kề bên
Bát cháo lưng cơm cho trọn tình Hiếu Đạo.
Có ngờ đâu đang vui hài hòa chung sống
Đột biến này gây nên nổi tang thương
Cơn Nhật Đán (3) u sầu ảm đạm
Chính nơi đây khi chiều tà anh em qua lại
Con Cháu đi về vui vẻ sớm hôm
Nhưng hôm nay Mẹ, Bà đã không còn
Tình Tức,Tế,Tử (4) hai dòng lệ nhỏ.
Trai của Mẹ ở cơ quan nơi xa ngái
Nhận được tin này tím ruột bầm gan
Không về được để dư khăn, thừa gậy
O Dượng và các Chú, Mự cũng đành chịu vậy
Cô - Vít chặn đường hết cách tiến lui
Trời cao, biển thẳm, đất dày
Não nùng thay khi gió thổi mây vần
Mẹ vội vàng dời chân về đất Bụt.
Để bao nỗi cháu con đau lòng khôn xiết (5)
Mẫu tử tình thâm ! Ôi là tình mẫu tử
Ấp ủ nâng niu nuôi dưỡng đủ đầy
Giờ Con Cháu đã đủ cánh, đủ lông
Đủ sức bay cao, vươn xa cùng bạn bè trang lứa.
Vậy mà Mẹ lại không còn nữa !
Con chắp tay vái chín phương trời
Nói với Mẹ nhửng điều xám hối:
Cuộc đời Mẹ nhiều sự tình khôn kể (6)?
Bảy mươi bảy xuân qua dâu bể phong trần
Gái thuyền quyên (7) xuất giá theo chồng
Sống bên nhau xây vườn tươi tốt (8)
Có ngờ đâu? Một buổi phong trần sấm động
Cha ra đi ngoài tuổi năm mươi
Ai gây nên sầu gãy bình rơi ?
Để mình Mẹ đau lòng nức nở.
Đức độ Mẹ hiền từ cam con, quý người, quý của (9)
Lòng nghĩa nhân khi bát nước đầy vơi
Con Cháu đi về no đói cơm khoai
Tiếng nói lời phô hiền hòa niềm nở
Lúc no đủ cũng như khi đói khổ
Mẫu tử tình thâm chia ngọt sẻ bùi
Có miếng chi ăn nhắc Cháu nhớ Con
Khi công buổi Mẹ nhường cơm sẻ cháo.
Trách tạo hóa gây nên sóng giữ
Ngẫm lời ai trăm sự do Trời
Đò sang sông thì sóng nước chơi vơi
Một mình Mẹ cầm chèo chống lái.
Mẹ là tấm gương nhân từ, mẫu mực
Nuôi được Mẹ Chồng sống gần trăm tuổi (10)
Cùng Đại Tôn mãi mãi trường tồn ?
Con ra đi tiến bước văn minh
Người cán bộ trọn tình dân nghĩa Đảng.
Cuộc sống đang đi lên trên con đường tươi sáng
Ước quê nhà ngày một văn minh
Hà Tĩnh quê ta thắm đượm nghĩa tình
Lòng nguyện ước ngày càng đổi mới .
Ôi thương ôi ! Con thương Mẹ lắm, Cháu nhớ Bà vô kể
Biết đến bao giờ trả nghĩa đền ân ?
Hôm nay đây đau đớn trong lòng
Từ giã Mẹ ra về miền đất Tổ
Sao Mẹ chẳng gắng thêm ít nữa ?
Để chờ ngày thượng thọ bách niên
Ai ngờ gió hạc, mây bay ! Nơi chín suối nghìn thu yên nghỉ.
Hay là Mẹ cung đàn lỡ nhịp ?
Xuống thiên đàng để nắn phím so dây
Cùng với Cha cho trọn tình chăn gối ?
Thế là thôi ! Con mất Mẹ; Cháu mất Bà yêu quý
Cảnh tang thương đau đớn ngậm ngùi
Thấy Mẹ nằm giữa trầm hương khói tỏa
Con gái than khóc, các cháu đau lòng
Trai của Mẹ Cô - Vít chặn đường không về được
Viết điếu văn gửi về đưa tiễn Mẹ
Đạo làm con thì than khóc nhớ thương
Thôi đành chịu âm dương cách biệt.
Nỗi đau thương mất mát trong gia đình,
Nội ngoại, con cháu, anh em xin cảm ơn:
Ban lễ tang Thành Ủy cùng Họ Tộc.
Anh em quý bậc thông gia, bà con lối phố
Bạn bè thân hữu gần xa, các ban ngành đoàn thể .
Đã về đây thắp nén hương thơm, thăm hỏi, chia buồn
Đưa tiễn Mẹ, Bà chúng tôi về nơi yên nghỉ .
Lúc Con Cháu đau thương, Anh Em tang gia bối rối,
Có điều gì khiếm khuyết hay không ?
Mong tang trường,cùng quý bậc rộng lòng lưỡng thứ .
Ô...hô…hô…
Ô...hô...hô…
Mẹ ơi là…hỡi mẹ !
Mẹ ơi là…hỡi mẹ !
Nam mô a di đà phật !
Nam mô a di đà phật !
Nam mô a di đà phật !

Cảm cáo !



TRIẾT LÍ NHÂN SINH Ý ĐẸP LỜI HAY VÀ NHỮNG CÂU THƠ TRIẾT LÍ

" Thắng lợi nhất của đời Tôi là:Được sống thật với chính mình, biết
chấp nhận những khiếm khuyết cùa bản thân và người khác "

"Nếu những ai? Có may mắn mà thành công chút đỉnh thì nên nhớ rằng những
tính cách tốt đẹp đó;những khéo léo đó; những kiên trì đó...Chẵng
phải tự trên trời rơi xuống đầu ai? Mà do nó đã nằm sẵn trong chuỗi ADN
Tiên Tổ,Can Cố,Ông Bà,Cha Mẹ đã cài đặt sẵn trong tế bào của mình rồi".

Mời bạn đọc những suy ngẫm - dân gian truyền lại :

Vừa chợp mắt đã mở,
Gặp mình nghìn năm trước.
Sẩy chân sa xuống vực,
Gặp mình nghìn năm sau.

Tưởng rằng ta gặp mình rồi!
Tỉnh ra giấc mộng giữa đời phù du.
( Giấc Mơ)

Tiêu phí nửa đời chợt hiểu!!
Nừa đời còn lại gang tay.
( Ngẫm)

Nhắm mắt nhìn xuyên ba cõi,
Mở ra bụi thế mù lòa.

Thời gian như rừu sắc
Đẽo bạt cả đầu xanh.
( Ngẫm)

Bấm nhầm một đốt ngón tay.
Trăm năm rút lại một ngày hư không!
( Vòng đời)

Lâu đài đổ bóng trôi sông,
Nghìn Thu, thu lại trong đôi mắt gầy!
(Nét Thu)


Sống đẹp một đời khó nhất: "Cái chết" !
(Triết lí nhân sinh)

Người còn xanh cỏ trên mồ,
Ta còn bạc tóc đến giờ lâm chung !
Thuyền chưa neo bến Tương Phùng,
Trái tim nửa đập, nửa ngừng vì đau.
( Tinh ma)

Nhưng câu chuyện chẳng thể tìm trong sách!
Vẫn trẻn trơ có mặt trên đời.
( Ngỡ 1)

Cuộc đợi sớm rủi, chiều may,
Bây giờ cát bụi, mai ngày kim cương.
( Ngỡ 2)

Ban ngày sấp ngửa sống ; Sập ngửa một bàn tay!
Đêm vè tìm lại bóng ; Giật mình ngỡ bóng ai?
( Tự thán)

Mong manh không hoàn thiện,
Là hạnh phúc con người !!!
(Như )

Ai đánh mất nơi thiên đàng?...
Chính là tự chuốc lấy nỗi đau nơi địa ngục.
( Triết lí nhân sinh)

Đi giữa đất trời, đường thẳng ngắn nhất!
Đi vào lòng người, theo đường dích dắc.

Muốn hiểu con người: Mở to đôi mắt!
Muốn nhìn rõ mình: Nhắm mắt rõ nhất.
( Ngẫm)

Ngồi dười đất, Đời gọi mình là dế!
Lên cành cao Ta hóa chú ve sầu.
( Nghĩ)

Dù tốt đỏ, tốt đen:
Vẫn mơ hoài nhập cung.
( Hy vọng)

Đừng lo trên mộ hậu thế khắc gì,
Mong đời qua ngõ " bạn" đừng thưa đi.
( Thơ hai câu)

Con người đi được muôn nơi ( kể cả cung trăng)
Sao đường đi giữa thế gian,
Người không mở được lối sang với người ???

Trái đất ơi! Ngược vòng quay,
Cho ta gặp lại cái ngày đầu tiên.
( Ước )

" Làm thơ đã khó, trở thành nhà thơ còn khó hơn lên trời
: Thông minh, học rộng ư? Chưa đủ. Giao lưu trừng trải ư?
Chưa hẳn đã thành tài ! Cái chình là ở tâm mình phải sáng.
Những gì từ trái tim mình đi ra thì dể trở vào trái tim ...!
(Khăng định )

NGẪM - NGHĨ

Trẻ ngỡ mình nặng nhất.
Già thấy mình nhẹ tênh !!!
(Ngỡ)

BÀI THƠ TỨ TUYỆT

Trần gian một kiếp rong chơi,
Cao xanh đáy giếng,ngỡ trời bao la.
Vân phong một thoáng bay qua!
Biết bao được mất,chỉ là hư vô.
Tác giả: Trần Cao Vân (học cùng khóa sp với Ông Tam)
Bài thơ tứ tuyệt của Bạn (Vân) thật là sâu sắc, nó giống như một bản tổng kết cuộc đời đầy chiêm nghiệm. Đặc biệt 3 câu thơ còn khéo léo lồng ghép tên của tác giả (Trần - Cao - Vân) vào đầu câu để tạo nên một dấu ấn cá nhân đậm nét.
Phân tích câu: "Cao xanh đáy giếng ngỡ trời bao la"- Đây là câu thơ mang sức nặng nhất về triết lý. có 3 tầng ý nghĩa đáng chú ý:
1> Sự khiêm tốn của ngì trí thức:
Sau một đời "tài hoa" Thay vì tự mãn, tác giả lại ví mình như ngì ngồi "đáy giếng" chữ "ngỡ" cho thấy một sự tĩnh ngộ muộn màng nhg thanh thản. Nó thừa nhận rằng những hiểu biết, thành tựu rực rỡ nhất của con ngì thực chất cgx chỉ là một góc nhỏ hẹp so với sự vô tận của vũ trụ.
2> Thức tỉnh sau ánh hào quang :
Khi còn trẻ , ai cgx muốn chinh phục thế giới, tưởng rằng mình đã hiểu hết đạo lý nhân gian "Ngỡ trời bao la". Nhg khi về hưu, nhìn lại bằng con mắt tĩnh lặng, tác giả mới thấy Tôi ngày xưa thật là bé nhỏ .
3> Hình ảnh đối lập : Giữa cái "cao xanh" (lý tưởng,hoài bảo) và cái "đáy giếng" (thực tại là hữu hạn) tạo nên một sự tương phản mạnh mẽ, thể hiện một sự chiêm nghiệm với giới hạn của kiếp ngì .
Tổng thể bài thơ :
Câu 1 (Trần) Coi cuộc dạo chơi (rong chơi) cách nhìn này giúp giải phóng tâm hồn khỏi nhgx nặng nề, áp lực cơm áo gạo tiền hay danh vọng.
Câu 3 (Vân) : Hình ảnh "Vân phong" (mây gió) gợi sự trôi chảy , nhanh chóng , đời ngì tài hoa đến mấy cũng chỉ như một áng mây lướt qua đỉnh núi , ngắn ngủi và vô thường .
Câu 4 : Kết lại bằng chữ "hư vô" đây là cái kết của một ngì đã thực sự buông bỏ . Khi hiểu rằng được hay mất cgx chỉ là hư ảo , ngì ta mới thực sự tìm thấy sự bình an tuyệt đối trong tâm hồn .
Tổng kết : Bài thơ của Bạn Vân không phải là một sự tự ti , mà là một sự tự tại . Đó là cái nhìn của một ngì đã đi qua hết thăng trầm , nay nhìn lại tất cả băng nụ cười mĩn , bao dung với chính mình và cuộc đời .


Cát vàng sóng cuốn về khơi,
Chỉ mong sót lại thơ Tôi một dòng.
(Ước )


Điếu văn Họ Trương Quang Đại Tôn - Điếu Bát thế húy Sừ

(viết thay cho Thập Thế Tự Lưu Tộc Trương Họ kịp thời khi đưa tang Ông Sừ ra)

Nam mô a di đà phật !
Nam mô a di đà phật !
Nam mô a di đà phật !
Than ôi !
Tiết mùa Thu trời quang mây tạnh
Hạc từng đàn vỗ cánh về non
Mới hôm qua Cháu còn chạy đến chơi nhà
Mà hôm nay Ông đã bay đi đâu ? về miền quê lạ
Trông ảnh Ông dòng họ ,cả tang trường buồn bã
Anh Em đây, Họ Tộc còn đây
Tình nghĩa thủy chung hôm sớm sum vầy
Sao Ông nỡ sớm dứt tình máu mũ
Tình cảm của Ông đối với mọi người thật đầm đà sâu nặng !
Tắt lửa tối đèn hoạn nạn có nhau
Việc ở ăn hiếm có ai bằng
Bề đối xử thật là keo sơn gắn bó
Ôi thương ôi ! Vội vàng chi thì cũng ít ngày nằm xuống
Để Vợ Con Anh E

Nam tử