Cội nguồn dòng họ Trương Quang làng Phú Hào.

Thủy Tổ họ Trương Quang ở làng Phú Hào, xã Đại Tiết này là Khói phố 6, phường Hà Huy Tập, thành phố Hà Tĩnh là cụ Trương Quang Tú - Tự là Quang Tú sinh vào khoảng cuối thế kỷ XVII (1690). Trong cuốn gia phả chữ Hán được viết năm Thành Thái thập tứ niêm (1902) có bài vị : Tiên Tổ Khảo : Tiền Thanh Hà quận, hương trung thọ lão Trương quý Công tự Quang Tú thụy ôn hòa phủ quân. Mộ tại Đại Tiết xã Cồn Đó xứ. Cụ Bà người họ Nguyễn có tên húy là Hột mộ tại Đại Tiết xã Nương Cai xứ. hai cụ có 6 người con (2 gái + 4 trai). Con gái đầu Tổ Cô nhất nương Trương thị húy Ký, con gái thứ Tổ Cô nhị nương Trương thị húy Đê. Nhị mộ hai cô được câu tại Nương Cai xứ Miếu thờ 2 cô nay ở bên cạnh nhà thờ Họ Trương Quang Đại Tôn Thập Nhất thế tự Năm; Kỷ Hợi niên (1959) Là Tộc Trưởng - Thạch Linh phường, Hà Tĩnh thành phố. Nhị ngoạt, sơ tứ nhật (04/02) ngày kỵ hai cô.

Bốn người con trai còn lại:

  1. Giáp chi tại y xã là Tiên Tổ Trương Quang Long Nhâm Thìn niên ( 1772) nay có từ đường Chi Ất ở khối phố Tuy Hòa phường Thạch Linh, Tộc Trưởng là Thập Thế Trương Quang Dũng Giáp Thìn niên (1964).Ngài có mộ tại Đình Ất xứ. Đại tướng Quân Trương tướng Công thụy Tiêu Thành mông tặng (được tặng): DỰC BẢO TRUNG HƯNG gia phong (tặng tiếp): ĐOAN TÚC LINH PHÒ TÔN THẦN. Chính kỵ nhị ngoạt, nhị thập lục nhật(26/02) mộ tại Đại Tiết xã Đình Ất xứ. Hai đạo sắc trên được lưu giữ tại miếu thờ bên cạnh từ đường Tiên Tổ Trương Quang Long. Là con trai thứ 3 của Tiên Tổ Trương Quang Long có tên húy là Thiều (1760-1791) hơn Gia Long 2 tuổi, kém Quang Trung Nguyên Huệ 7 tuổi, mất trước Quang Trung một năm. Hai đạo sắc trên tấn phong không rõ năm nào, truy phong đạo sắc thứ nhất Khải Định nhị niên (1917) tam ngoạt, thập bát nhật(18/3) Đạo sắc thứ hai Khải Định cửu niên (1924) nội dung hai đạo sắc được ghi trong giả Hán Nôm từ Nhâm Dần niên( 1902). Được công nhận di tích văn hóa cấp tĩnh năm 2011. Miếu thờ vọng chung với miếu thờ vọng Thần Tổ húy Tình và Thần Mẫu húy Viêm tại từ đường Tiên Tổ Trương Quang Châu ở phường Hà Huy Tập
  2. Nhất chi tại Đông Lỗ xã Thượng Phúc thôn nơi đây có từ đường mười tám đời của họ Đại Tôn Trương Quang và miếu thờ Tiến sĩ Trương Quang Trạch (1641-1677) nguyên là quan ngự sử dưới thời vua Lê Huyền Tông. có tên được khắc vào văn bia số 45 ở Văn miếu Quốc Tử Giám.
  3. Nhất chi tại ngô thôn (thôn ta) là Tiên Tổ đời thứ nhất Họ Trương Quang ở làng Phú Hào (xưa) nay là khối phố 6 phường Hà Huy Tập có từ đường làm Canh Ngọ niên(1930) cùng với miếu thờ Thần Tổ, Thần Mẫu . Tộc trưởng là ThậpThế Trương Quang Lưu Mậu Tý niên ( 1948). Người có tên tự là Gia Châu Giã (chi đệ tứ) Kỳ Di Khâm Mông Ân Tứ Thọ Lão (thọ trên một trăm tuổi được tứ trụ triều đình ban tặng áo lụa). Một tấm lụa vua ban thật đủ vinh hạnh cho muôn đời sau rất tiếc là con cháu không biết sớm mà đón nhận. Mộ tại: Bản thôn, Đồng Yêm xứ . Chính kỵ: tứ ngoạt sơ tứ nhật(04/4). Cụ bà Trương chính thất Trần thị hạng tam húy Chế hiệu tắc thuận nhụ nhin. Mộ tại Cồn Đung xứ. Chính kỵ thập nhất ngoạt thập ngũ nhật (15/11).
  4. Người con trai thứ 3 Cao Cao Tổ Bá Tiền Thanh Hà quận Trương Quý Công húy Tình phủ quân. Có phần mộ cựu táng tại Đại Tiết xã, lại có thêm miển mộ táng tại bản thôn Bụi Dứa xứ. Ngài có tên thụy là Chiêu cẩn án cựu (có ghi trong phả cũ) . Phả nghi thị Tiên Tổ tử giả. Cung kiếm tài anh, tang phùng chí hướng, kinh doanh phương ngoài, lao lạc sơn trung, ngô tộc (tộc ta) chiêu hồn ninh thố chi mộ nhị ; Nhất tại bản Bụi Dứa xứ; Nhất tại Đại tiết xã địa phận . Sinh vi anh tử linh sơn trang, triệu tử ba cừu, cồn hoàng , nhi lai thường ứng linh đồng phi lai pháp thủy bảo ngả tộc, tử, tôn. Thành Thái thập tam niêm (1901) phụng tự chi vi .Thành Thái thập tứ niên (1902) nhị ngoạt cát nhật. Đồng tộc phụng ký. Ngài là Thần Tổ của dòng họ có miều thờ bên ngoài từ đường Tiên Tổ Trương Quang Châu.
Tiên tổ Trương Quang Châu tới định cư ở làng Phú Hào, khoảng non nữa đầu thế ký thứ XVIII (1740) tới nay hơn 280 năm nếu lấy Thập Thế tự Lưu làm chính bái thì Họ đã có 10 đời và 2 thế hệ.Chỉ tính riêng đinh và cô đời thứ nhất có 1 người ; đời thứ 2 có 4 người ; đời thứ 3 có 4 người ; đời thứ 4 có 15 người ; đời thứ 5 có 32 người ( trong đó có 2 tổ cô) ; đời thứ 6 có 36 người ; đời thứ 7 có 39 người ; đời thứ 8 có 65 người; đời thứ 9 có 89 người ; đời thứ 10 có 110 người; thế hệ thứ 11 có 114 người ; thế hệ thứ 12 có 18 người; Tổng cộng có 500 người hiện còn sống là 258 người.Có cây lớn nào mà không phân cành, có dòng sông nào dài mà không phân nhánh, dòng họ đến đời thứ ba thì mọc lên 4 nhánh : nhánh Giáp là Cao Tổ húy Dĩnh mất sớm ; nhánh Ất là Cao Tổ húy Đường (1770 - chi đệ nhị) ; nhánh Bính là Cao Tổ Quynh (chi đệ tam) ; nhánh Đinh là Cao Tổ húy Trách (chi đệ tứ). Đến đời thứ tư thì phân ra được 15 cành ; đời thứ 5 (Diêu giỗ) có được 32 chi trong đó có 2 chi nữ là Cao Tổ Cô húy Hướng và Cao Tổ Cô húy Khuyến hiện còn lại 7 chi (6 chi thuộc cành Giáp và 1 chi thuộc cành Ất).
  • Chi một: Can Trứ chi trưởng Cửu thế húy Hồ (1927).
  • Chi hai: Can Thiệu chi trưởng Cửu thế húy Sinh (1926).
  • Chi ba: Can Đinh chi trưởng Cửu thế tự Thắng (1959).
  • Chi bốn: Can Xuyến chi trưởng Cửu thế tự Đàn (1947).
  • Chi năm: Can Phổ chi trưởng Cửu thế tự Cô Tuyết (1937).
  • Chi sáu: Can Miễn chi trưởng Cửu thế húy Mậu (1932).
  • Chi bảy: Can Kỳ chi trưởng Cửu thế tự Thắng (1978).
Trong bảy chi trên chỉ có chi Can Miễn là có nhà thờ, có nghĩa trang và còn giữ được phần mộ của song Cao Tổ còn lại chi Can Trứ thờ chung nhà thờ họ Đại Tôn , chi Can Xuyến chi Can Phổ thờ chung nhà thờ Bính chi Cao Cao Tổ húy Nhàn (Tứ thế Tổ) , Can Kỳ thờ chung nhà thờ cành Ất . Việc họ từ trước tới nay hoạt động theo cơ chế tộc trưởng, cầu đang điều hành , quản lý, chưa có hội đồng gia tộc , không lấy ngày kỵ của Tiên Tổ ( 04/4 âl) làm ngày giỗ Tổ mà hàng năm con cháu về cúng tế rằm tháng giêng (theo truyền thống chung của nhiều họ). Ba nhà thờ còn lại cũng tổ chức ở giạng này.

Các danh nhân văn quan võ tướng có liên quan đến dòng họ thời trước đến nay có 2 người: Những người thành đạt trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự, khoa học, nghệ thuật, thể dục, thể thao thời nay đã nẩy mần nở rộ đơm hoa kết trái (nhất là đời thứ 10).

Hiện trạng số hộ nghèo là 0; Số hộ giàu là 20/125 hộ chiếm 16%; Về văn hóa giáo dục: Đã thành lập ban khuyến học, khuyến tài có quỹ khuyến học là triệu đồng; Tiến sỹ là người, phó tiến sỹ người, thạc sỹ 10 người, cử nhân 130 người; số người được tặng các danh hiệu nhà giáo nhân dân , nhà giáo ưu tú , thấy thuốc nhân dân , thấy thuốc ưu tú là người, nghệ sỹ nhân dân là người, nghệ sỹ ưu tú là người, giáo sư , phó giáo sư là người; Vận động viên thể dục là người, thể thao đạt huy chương quốc gia là người; Về văn hóa chính trị: Số cán bộ chủ chốt cấp xã là người, cấp huyện 2 người, cấp tỉnh người, cấp trung ương là người; Về quân sự an ninh: Sỹ quan cao cấp trong quân đội 1 người, công an là người; Các danh hiệu vinh dự được nhà nước trao tặng anh hùng lao động là người, anh hùng thời kỳ đỗi mới là người, anh hùng lực lượng vủ trang là người, mẹ Việt Nam anh hùng là người, liệt sỹ là 9 người, người có công là khoảng trên dười 200 người, lão thành cách mạng là người , cán bộ tiền khỏi nghĩa 2 người.

Những thành tựu trên đây của Họ Tộc thật là khiêm tốn nhưng chúng tôi cũng rất lấy làm vinh dự tự hào với những gì mà dòng họ có được. Đặc biệt dòng họ có bề dày lịch sử gần 300 năm, lưu giữ được 3 cuốn gia phả Hán Nôm: Tự Đức nguyên niên (1847); Thành Thái tam niên ngụ niên (1891-1893); Thành Thái thập tứ niên (1902) . Danh nhân liên quan đến dòng họ có tên được khắc vào văn bia thứ 45 Văn miếu Quốc Tử Giám. Danh Tướng được nguyên tặng: Dực Bảo Trung Hưng, gia tặng: Đoan Túc Linh Phò Tôn Thần hai đạo sắc trên còn sáng chói sơn son thiếp vàng.

Ghi chú : Phần trên chưa có số liệu nhánh Tiên Tổ húy Long Nhâm Thìn niên (1712)
Cập nhật ngày 05/11/2024
Nhánh Tiên Tổ húy Long : Đời thứ nhất 1 người ; đời thứ 2 hai 4 người ; đời thứ ba 2 người ; đời thứ tư 11 người ; đời thứ năm 18 người ; đời thứ sáu 29 người ; đời thứ bảy 25 người ; đời thứ tám 26 người ; đời thứ chín 35 người ; đời thứ mười 34 người ; thế hệ mười một 12 người ; thế hệ mười hai 2 người
Gồm 7 chi :
Chi một : Can Quế chi trưởng Cửu thế húy Trạch (1939 )
Chi hai :Can Tuyển chi trưởng Cửu thế tự Sơn (1972 )
Chi ba : Can Đậu chi trưởng Cửu thế húy Tiếp (1936 )
Chi bốn : Can Thi chi trưởng Cửu thế tự Lý (1959 )
Chi năm : Can Tùng chi trưởng Cửu thế tự Thanh (1977 )
Chi sáu : Can Thự chi trưởng Cửu thế tự Nghị (1964 )
Chi bảy : Can Hinh chi trưởng Cửu tự Chiến (1976 )
Trong bảy chi trên chưa chi nào có nhà thờ .Chi Can Đậu ; chi Can Thi ; chi Can Tùng thờ chung với nhà thờ Cao Cao Tổ huý Đường (Tứ thế Tổ ) .