Cửu Thế tự Tam

Thân sinh

1917 - 24/11/1979

Thông tin

2/2/1947
?
Cửu Thế tự Tam
(9292+3,6337)
Thầy Hà
Tìm kiếm trên Google gỏ cửu thế tự tam Enstel cho kết quả Họ Trương Quang http://hotruongquang.com>252- cuu-the-tu-tam
Cửu Thế Tự Tam tên thường gọi là Thầy Hà sinh 02/02/1947 là giáo viên THPT dạy toán.Nghỉ hưu 03/2008,có thời gian công tác liên tục là 43 năm 1 tháng,có được 1 cái Huy chương KCCMCN hạng 2.Vì không đứng trong hàng ngũ của Đảng nên chẵng ai trao cho chức danh gì,ở tuổi học trò có làm phó Bí Thư ĐT cấp 3 PĐP được một khóa,mãi tới lúc về hưu mới biết ngu là không vào Đảng dẫn đến thua thiệt bạn bầu trăm đường. Là người có bản lĩnh, có năng lực,có trí tuệ, tính tình vui vẽ, chan hòa với mọi người, hay hát-hát hay,có biết làm thơ,làm phú,làm điếu văn;có biết đôi chút về tử vi tướng số,có nghiên cứu kinh dịch,biết nhiều về công nghệ thông tin.Thuận tay trái,lắm tài vặt,nghề chi cũng làm được có đều biết một chẵng biết mười,tính hay cầu toàn nên cuộc đời khi nào cũng cảm thấy khổ.
Về trình độ và trí tuệ:Là người đầu tiên học cấp 3 và có trinh độ đại học của dòng họ kể từ khi có họ 1690,mãi tới 20 năm sau(1994) trong Họ mới rãi rác có những người nhưTôi ,là tác giả cuốn Gia Phả ĐiệnTử-hotruongquangph.com,và cũng có thể là người đầu tiên ở Việt Nam thành công trong việc viết gia phả từ hình thức in ra giấy chuyễn thành trang web gia phả cá nhân (TWGPCN) trên trang mạng internet mà bí quyết của nó là chuyễn phả đồ doc, phả đồ ngang truyền thống sang phả đồ logic bằng phương pháp thủ công:số hóa,mũ hóa,chỉ số hóa.Rồi từ đây chuyễn thành Phả Đồ Điện Tử làm "cốt"cho Gia Phả Điện Tử với khẳng định:"KHÔNG CÓ PHẢ ĐỒ ĐIỆN TỬ-TWGPCN THÌ KHÔNG BAO GIỜ CÓ GIA PHẢ ĐIỆN TỬ".
Tất cả những phiên bản viết trên Hán dưới Việt trong hotruongquangph.com đểu do Ông chọn chữ và ghép,tuy có sai sót nhưng không đáng kể.Ông là người sưu tầm được bài:Trương Gia Phả Tựa viết năm Thành Thái ngũ niên 1893 thực chất là bài Gia Phả Tựa chung cho tất cả các họ, nghi bài này là của Trung Quốc vì trong đó có các họ:Đan,Mẫn,Quách,Mao,Thái,Phương, Ngô,Đổ,Vũ... Người mà ngẩu nhiên trong lúc nhàn rổi tận mắt đọc quyển biên xưa, chính duyệt, phụ khảo, chú trong nhuận sắc cho các đời thứ đến hiệu đính tên họ rồi biên soạn thành tập là hậu duệ đời thứ 12 của một dòng họ có 22 đời, trên vài ngàn đinh có cuốn gia phả viết theo kiểu gia phả chữ Hán năm ? có phả đồ dọc; người họ Trương nên Tiên Sinh ấy hiệu đính thành Trương Gia Phả Tựa cho họ nhà mình (bài này Tôi có gữi tặng họ Trương Việt Nam) Đồng thời Ông Tam là tác giả các bài viết:
1 Đàm Đạo Về Việc Họ-Thờ cúng Tổ Tiên và giáo dục truyền thống gia đình
2 Bài Thơ:Kính Dâng Hương Hồn Mẹ (viết xong sau mẹ Ông mất 12 ngày) bài này có trên Google gỏ Kình Dâng Hương Hồn Mẹ bài đầu tiên: Họ Trương Quang http://www hotruongquang.com >news>13 kính dâng...
3 Điếu văn Họ Trương Quang đại tôn Điếu Bát thế húy Sừ viết thay tộc trưởng (kịp thời khi đưa tang Ông Sừ ra)
4 Bài Thơ:Khóc Mẹ viết thay cho cháu Quốc (cũng kịp thời khi đưa tang mẹ cháu Quốc ra)
5 Bài Thơ:Ru Cháu (khi cháu Khải được 3 tháng tuổi)
6 Triết lý nhân sinh;Lời hay ý đẹp;Những câu thơ triết lý (viết trong nhiều năm)
7 Ông đưa ra đươc các dấu hiệu nhận biết họ Trương Việt Nam và sưu tầm được câu đối nói về nguồn gốc họ Trương Việt Nam (nhờ nhà Trung Quốc học Trần Trọng Sâm phiên âm, dịch nghĩa)

Bà Hoàng Thị Tùng(vợ Ông Tam) sinh 13/3/1949 quê ở Kỳ Anh là giáo viên tiểu học từ 1968 -1993 nghỉ hưu,xét về mặt thành tích thì không có gì đáng kể.Bà là ngươi phụ nữ về trí tuệ cũng tạm tạm, xinh xẻo,tính tình vui vẽ hoạt bát,nhanh nhẹn... biết chăm lo vun vén cho gia đình luôn có cuộc sống khi nào cũng đủ đầy kể cả thời kỳ bao cấp trong nhà có lúa gạo nhiều giáp hạt cho người ta vay ăn đói đến mùa lấy lãi từ 1 thành 1,2.Về hưu mở quán bán hàng vặt cho đến Côvits thì nghỉ kiếm được nhiều tiền năm 2000 mua được cái xe máy gần 30 triệu,vậy mà năm 2003 Bà Châu có bán một tý đất của Cố Cầm đứng tên Bà Châu đươc hơn 150 triệu chia 5 phát 7 Cháu Hậu không đến phần Bà Tùng cho Ông Tam đứng ngồi không yên. Cố Cầm hết khó 2017 làm cái mộ hết hơn 12 triệu chia cho 5 anh em chịu đều Bác Hải thì chết đi rồi Cháu Quốc thì cả nhà tập trung ngoài Hà Nội cấp cứu Bà Châu thập tử nhất sinh nên phần Cháu Quốc Bà Tùng tạm thời bỏ ra Ông Tam nói ta chịu đi cho cháu vì Cô và các Chú từ Sài Gòn ra tốn kém nhiều đừng bắt cô chú chịu nữa vậy mà Bà Tùng không nghe,Cố Cầm mừng thọ tuổi 80 năm 1999 Bà Tùng ở nhà vào mừng thọ Cố 10.000 đồng Ông Tam nói mừng ít thế Bà cảm ơn đi chứ lấy làm chi Cố Cầm nói lại 10.000 cũng là quý chứ còn hơn nó không vào thì sao nữa;tại thời điểm đó cố mới có hai chắt là cháu Bà Tùng, chắt mà vào ít nhất Cố cũng mừng cho mỗi Chắt dăm chục. Họ có 3 cái nhà thờ Họ nhánh, Họ con, Họ lớn mỗi năm ít nhất cũng 1 lần về khi họ có công thế mà chưa một lần bỏ 1 đồng vào hòm công đức,trong khi đó Cố Cầm chưa ai đi Họ Cố đã đi,chưa ai bỏ hòm công đức thì Cố đã bỏ ít thì vài ba chục nhiều thì có khi cả trăm ngàn. Bà Tùng nhỏ nhen, hẹp hòi, ty tiểu...ít thơm thảo với bất cứ ai kể cả hành khất vào nhà xin; ngược lại cháu Khải khi ra cổng phụ siêu thị MaTiCo người khuyết tật ngả mũ xin những người có tiền lẻ còn cầm trên tay mà nhà xe vừa phụ cho, mà Ông Nội thì không có nên không có cho!Khải còn hỏi Ông có biết vì sao người ta lại phải đi xin như thế không?... người ta đã xin là phải cho,nên mặc dầu đã sang bên kia đường rồi còn bắt Ông dừng xe rồi quay lại bỏ vào mũ ông khuyết tật ấy 20.000 đồng có sẳn trong người;nộp tiền ủng hộ người nghèo Bà nộp mức thấp nhất đã được quy định,có lần cả tổ dân phố mỗi mình Bà nộp mức ấy mà loa thì chỉa thẳng vào nhà nói ngày này qua ngày khác"Ông Bà Hà Tùng 20.000 ngàn đồng" Ông Tam thẹn đỏ mặt; may mà Hậu không nghe,trong khi đó người nhiều nhất 300.000 ngàn đồng từ đó Ông Tam không cho tổ trưởng liên gia thu tiền đó qua Bà Tùng nữa (riêng con cháu trong tay mình thì Bà lại rất thơm thảo),khùng tính,thiếu đảm đang,vụng về,luộm thuộm,công tác nội trợ thì hơi yếu,tằn tiện,rất cảnh giác với kẻ gian, nõ dịu dàng,nõ biết sợ ai và cũng nõ chịu thua kém chi ai...đúng là KM-làSTHĐ; dân gian có câu:"Đức hiền tại Mậu,trắng gạo ngon cơm"thì rất tiếc là Bà Tùng lại không làm được điều đó.Nói tóm lại những đức tính gì mà Bà Tùng có thì Ông Tam không có, quy luật bù trừ thế gian đã đúc kết "được vợ thì mất chồng".May mà con cái trong gia đình hoàn toàn 100% giống Cha,giống Bà Nội.Hai Ông Bà sinh được 4 người con 3 gái,1 trai con gái nối nghiệp mẹ,vợ chồng con trai út làm ngân hàng chồng có chức danh- Giám Đốc chi nhánh ACB ở Kỳ Anh.Vừa nội vừa ngoại ông bà có 9 cháu 7 ngoại,2 nội,cháu Quỳnh Trâm lớn tuổi nhất sinh 1995 là BS nội trú khoa chẩn đoán hình ảnh công tác tại BV Bạch Mai.Cháu chưa xây dựng gia đình,cháu Hồng Quân sinh 1998 làm ngân hàng NgoạiThương quận Hải Châu TP Đà Nẵng. Vợ là Đức Hạnh cùng tuổi quê huyện Thăng Bình Quảng Nam làm Hải Quan TP đã có 1 con trai đầu lòng.

Nhích chuột vào số 63 cho kết quả Bát thế húy Cầm là thân sinh Tôi;nhích chuột tiếp vào số 51 cho kết quả Hiển Tổ húy Đỉnh là Ông Nội Tôi;nhích chuột tiếp vào số 51 nữa cho kết quả Tằng Tổ húy Ân là Cố Nội Tôi;nhích chuột tiếp vào số 36 cho kết quả Cao Tổ húy Miễn là Can Tôi...

Sau đây là những thành quả Ông Tam làm được:


BÀI THƠ: KÍNH DÂNG HƯƠNG HÔN MẸ
(Viết xong khi mẹ Ông Tam mất 12 ngày)

Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật!

Than ôi!

Con vẫn biết rằng mệnh trời khó cưởng
Cỏi âm dương cách trở khôn lường
Con vẫn cầu chín hướng mười phương
Mong cho Mẹ sống được thêm nhiều năm nữa
Cho dâu con phụng dưỡng tuổi già
Cho Mẹ được hưởng tròn bách tuế
Cho cháu chắt được hưởng lộc trời ban
Được Vua(1) trao áo lụa và tặng quà
Cho gia tộc muôn đời vinh hạnh
Cho Con được chỉnh tu điều ăn lẽ ở
Chẳng để ai trách quở vô tâm
Cho ấm êm giường nệm Mẹ nằm
Cho trọn đêm Mẹ tròn giấc ngủ
Nào ngờ đâu Mẹ đã vội vã ra đi
Cho kịp ngày Ngưu Lang Chức Nữ(2)
Nên Con không kịp trở tay đưa Mẹ về bên nhà
Mà khi còn sống Mẹ đã dặn đi dặn lại
Con thấy lòng mình xao xuyến Mẹ ơi
Mẹ bao dung độ lượng một đời
Chắc giờ Mẹ đã ngậm cười nơi chín suối(3)
Con xin trời được sống thêm mươi tuổi
Tu cho đời trọn đạo làm con
Chốn dương gian Mẹ đã không còn
Giờ hồn Mẹ đi về đâu hởi mẹ?
Càng ngẫm nghĩ Con thấy tâm can chà xát
Với những lỗi lầm Con phải ăn năn
Nhớ những lúc Mẹ hờn dỗi bỏ ăn
Con bảo Mẹ hai lần con nít
Con vô tâm nào đâu có biết
Mẹ khóc thầm ứa lệ vào trong
Để đến hôm nay sức kiệt Mẹ nằm
Mắt Mẹ nhắm mà hai làn lệ ứa
Đã bảy tám tháng trời Mẹ không nói nữa
Con biết rồi cũng đã đến ngày cách trở đôi nơi
Mẹ tin Con tin cả một đời
Con sẽ hiểu những lời Mẹ nói
Giờ Mẹ đã về nơi chín suối
Con muốn chuộc lỗi lầm thì không còn Mẹ nữa Mẹ ơi !
Nhớ những lúc trái gió trở trời
Bệnh sản về già Mẹ ngồi ho rũ rượi
Con biết Mẹ toàn thân nhức mỏi
Nhưng Con đã làm gì cho Mẹ đở đau đâu?
Thang thuốc bắc chẳng đáng là bao
Mẹ muốn uống mà tiền thì thiếu (4)
Vậy mà của trong nhà Mẹ đem cho đem biếu
Con cạn lòng có hiểu gì đâu?
Việc Mẹ làm để lại phúc cho mai sau
Cho cháu chắt chồi xanh lộc biếc
Con cứ nghĩ mình là tài ba tháo vát
Từng đi nhiều hiểu biết nông sâu
Con đã từng làm thầy ở những trường đứng đầu
Sống kiên trường(5) được bạn trò nể trọng
Nên về nhà giám coi thường cả Mẹ
Việc gia đình chẳng để Mẹ tham gia
Tự cho mình là thẩm phán quan tòa
Quyết mọi việc nóng như lửa đốt
Không mời Mẹ tham gia chính cuộc
Mẹ ngồi im lặng nuốt quặn đau
Phận làm con chữ Hiếu làm đầu
Giờ nghĩ lại mà lòng đau như xé
Hiểu ra được thì không còn Mẹ
Con chắp tay vái chín phương trời
Nói với Mẹ những điều xám hối
Đời Mẹ nghèo ba chìm bảy nỗi
Từ tuổi thơ cho đến tận già
Lên sáu tuổi cha mất trong một hoàn cảnh thật đáng thương tâm (?)
Nên "mẹ con" phải quay về sống cùng Bà Ngoại
Ở nương cửa người suốt cả tuổi xuân
Lớn lên lấy chồng gặp nơi cùng gia cảnh
Cha cũng không còn, anh em trai thì cùng cha khác mẹ
Chị gái lại cùng mẹ khác cha
Ruộng vườn đã không mà nhà cửa cũng chưa có?
Bốn bàn tay không gây dựng cơ đồ
Vất vã gian truân biết mấy
Lại chín lần sinh con thì ba lần sa sẩy
Những tưởng rằng sông có khúc, người có lúc
Trẻ mà lận đận chắc rồi về già sung sướng
Nào ngờ đâu cha Con mất khi mới về hưu
Lúc đó chưa có chế độ hưởng tuất cho Mẹ kiếm đồng
Chị chết trẻ, Cháu mồ côi Bà đưa về nuôi dạy
Anh con bao năm tham gia ở chiến trường Miền Đông Nam Bộ
Hết chiến tranh đưa về cho Mẹ một tấm thân tàn ma dại
Cùng với một loạt hoạt huân huy chương, bằng khen đủ loại...
Giao cho vợ đùm bọc gọn gàng giữ cất cẩn thận
Vậy mà sao chẳng thấy có chế độ chi
Hể mỗi lần anh đi nhận tiền trợ cấp hàng tháng
Người ta thì được tiền nghìn tiền vạn
Lại còn thêm cả tiền chất độc gia cam, và tiền thương binh giả
Con còn mình chỉ được tiền đồng tiền hào
Mẹ thương anh van khóc cháy gan cháy ruột
Rồi anh Con mất (13/12/1992) khi còn 17 ngày nữa mới được hưởng hạn 53
Hỏi "Ông Trời" Mẹ Tôi có tội tình chi
Mà sao Ông nỡ làm tội, làm tình Mẹ Tôi đến thế
Vốn liếng dành dụm lâu nay Mẹ không có
Biết lấy gì hộ với "mẹ con" nó đây?
Con thì đông mà chẳng có đứa nào khá giả
Đứa ở gần cũng như đưa ở xa
Huy động các con hộ vào đây chắc là không được
Thôi thì suốt ngày cũng như đêm Mẹ chỉ biết luôn chân luôn tay
Làm những việc mà Cháu,Dâu không làm xuể
Mùa về thì còng lưng ngồi rứt từng sào lạc
Phơi, sảy, giê (7) cả đống thóc trong nhà
Đống rơm chưa phơi, sào toóc chưa xách lên bờ Mẹ cũng làm cho rối
Sợ đông về bò đóng trong ràn không đủ ăn no
Bòn từng sảo lá khô, nhặt từng nhánh củi dè (6)
Thêm vào đun nồi cháo lợn để đỡ tiền mua củi
Lúc nhàn rỗi thì ra vườn cuốc xới
Cơm Cháu dọn ra rồi mà gọi mãi Bà không vô
Làm việc chi cũng thích khen ưa nịnh
Và cũng chẳng bao giờ chịu thua Con thua Cháu
Đương thời nết gia phong Cha Con thật thà như đếm
Mẹ ghồng lưng lo chuyện ruộng nương
Tổ đổi công đến thời hợp tác
Mẹ hăng say công việc dân giao (8)
Tính thẳng ngay lòng dạ sáng sao
Chí của Mẹ muốn vào với Đảng(và rồi cũng không vào được)
Mẹ thảo thơm nên lắm phường nhiều bạn
Tắt lửa tối đèn hoạn nạn có nhau
Lấy chữ "Tâm" chữ "Tín" làm đầu
Việc Họ, việc Làng Mẹ ôm bao cả
Giỗ Cố Ân tháng nào, kỵ Ông Bà Phó Chắt ngày mấy
Sợ Cháu Con quên Mẹ nhắc trước cả tuần
Với bà con họ hàng gần
Ai mất lúc nào Mẹ cũng nhớ nhập tâm
Làm công đức cho Tổ Tiên thì Mẹ không bao giờ thiếu
Việc hiếu hỹ bà con lối xóm
Con Cháu muốn đi thay Mẹ cũng không cho
Và nếu đi rồi thì Mẹ vẫn đi phần của Mẹ
Lúc còn trẻ Mẹ thích tham gia công việc ngoài xã hội
Nên về già Mẹ hiểu cho Dâu
Thích Dâu mình đi ra cho bằng bạn bằng bầu
Để lấy tiền thơm về cho "Nhà Hải"
Suốt một đời bữa ăn Mẹ không hề đòi hỏi
Có đồng quà tấm bánh ai biếu ai cho dù ít dù nhiều
Bà chẵng nỡ ngồi ăn một chắc
Gắp cho đứa ni một chút, sớt cho đưa kia một ti
Làm một hồi rồi mình chẳng còn gì
Có như thế thì Bà mới sướng bụng
Em Con bảo: Vừa dâu, vừa rễ 28 đứa cháu chứ có phải ít đâu?
Sao chỉ thấy Bà nhắc mỗi mình Nga và Quốc
Phận làm anh không biết tìm điều lý giải
Còn phụ họa vào để em hiểu sai về Mẹ
Con cúi van xin ngàn lần Mẹ tha thứ cho
Riêng phần Con thì Mẹ đừng có lo
Bởi gần đây Con phải chịu đôi điều thất thiệt
Nào có phải ai khác đâu?
Mà chỉ có anh em Nội Thân và những người mắt trần(9) trong Dòng Tộc
Họ cứ bảo rằng uống rượu vào say cho lắm ...
Nhưng Con say vì say nghĩa, say tình
Say với những gì mà Con đang tri ân cho Tiên Tổ
Sẳn có thời gian nhàn rỗi ngồi trong phòng với Mẹ
Con hoàn tất việc làm gia phả, phả đồ
Với đề tài Con đã nung nấu mười mấy năm nay
Tiếp sức chung tay có Bác Mậu dẫn đường
Lại được Tổ Tiên phù trì bảo hộ
Con đã hoàn thành những việc mà Tổ Tiên giao phó
Hỏi thử thế gian này đã mấy ai làm được
Theo ba cuốn gia phả Hán Nôm mà Tổ Tiên để lại
Trên ba trăm ba mươi năm chứ có phải ít đâu
Đã có mười đời và hai thế hệ
Số đinh và cô xấp xĩ bảy trăm
Nếu tính cả Tức (10) nữa là vừa ngót nghìn hai
Vậy mà ai sinh ra ai Con biết rõ ngọn ngành
Rồi ngồi sắp xếp lại theo thế, thứ, vị, tường cẩn thận
Phần mộ ở đâu? năm sinh, ngày, tháng giỗ
Xưng hô rõ ràng như muôn Họ đã từng xưng
Lập phả đồ tối ưu cho việc tra cứu từng cá thể
Chuyển tải nội dung lên trang mạng rõ ràng
Và chọn nơi lưu giữ ngàn năm cho dòng tộc
Để các thế hệ mai sau dù ở xa hay ở gần đều biết
Tìm về cội nguồn mà hướng tới tương lai
Nếu ai đó có đủ sức đủ tài
Thì đặng góp phần tôn vinh cho Dòng Tộc
Còn ai phê phán gì thì Con bất chấp
Bởi Họ biết chi về những việc Con đang làm
Thậm chí Con làm rồi Họ cũng không biết tìm, biết đọc
Không phải sẵn mồm mà muốn nói chi thì nói
Con không hơi đâu mà bận tâm với những gì hiện tại
Mà Con đang lo cho vài ba trăm năm sau
Khi nói đến Họ Trương Quang ở làng Phú Hào (xưa)
Thì cả Họ không một ai biết gì về cuội nguồn gốc rễ
Cảm ơn Mẹ đã sinh ra Con đủ sức đủ tài
Cảm ơn Tổ Tiên đã phù trì bảo hộ
Chắp cánh cho Con hoàn thành được những ước mơ
Sáu mươi chín xuân qua nay Con thật sự đã trưởng thành
Quà tặng Mẹ mang về nơi chín suối

Ô hô hô .... Ô hô hô ... Ô hô hô...
Mẹ ơi là hởi Mẹ ... Mẹ ơi là hởi Mẹ ...(2 lần)
Nam mô A Di Đà Phật
Nam mô A Di Đà Phật
Nam mô A Di Đà Phật
Cảm cáo !
Chú thích:
(1) Vua : Là chủ tịch nước bây giờ
(2)Ngưu Lang, Chức Nữ: Mẹ mất 3 giờ ngày 7 tháng 7 âm lịch
(3) : Mẹ mất được 12 ngày thì Tôi hoàn tất bài viết này
(4)Thiếu :Tiền đưa cho Mẹ mua thuốc Mẹ lại đem cho người khác
(5) Kiên trường : Là đức tính của Chúa
(6) giê : Là dội trước dó cho bay hết bui và thóc lép
(7) Dè:củi tre
(8) Dân giao: Một khóa hội đồng nhân dân xã,cán bộ phụ nữ xã,ũy viên cữa hàng mua bán htx,cán bộ phụ nữ xóm
(9) Mắt trần:Là những người nhìn hiện tượng không biết bản chất(10) Tức là con dâu của họ

BÀI THƠ RU CHÁU (Viết khi Cháu Khải được 3 tháng tuổi)

Cu Bi ngoan lắm Bà ơi
Bú no ngủ kỵ, dậy pha lắm trò
Gồng lưng, nhếch mép, nhiu mày
Xem ra sau lớn nghề này giống Cha
Canh Dần chọn năm chui ra
Tên Cha Mẹ đặt Ông tra(1) quẻ đời
Ông mừng cho Cháu Bi ơi
Hoa nào trái ấy luật nhân quả mà
Cu Bi niềm vui của Ta
Như thang thuốc bổ cả nhà dùng chung
Lớn lên Ông những ước mong
Chăm ngoan học giỏi tinh thông đường đời(2)
Chữ Đức, chữ Hiếu, chữ Tài
Cả ba chữ ấy miệt mài luyện tu
Dẫu về chín suối nghìn thu
Bên Bi Ông vẫn hát ru ngọt ngào
Những mong chức trọng quyền cao
Và mong Bi lớn mai sau nên người
Dù đi muôn dặm xa xôi
Nhớ về nguồn cội chiếc nôi Ông ru đầu đời

Ngày 19 tháng 5 năm 2010
Ông Nội :

光Qu

Chú thích: 1). Chử Trương (張) 11 nét : 8 dư 3, Ly 離 là quẻ trên
Chữ Quang (光) sáu nét + chữ Khải (啓) 11 nét = 17 chia 8 dư 1, Càn 乾 là quẻ dưới.
Ly là quẻ trên Càn 乾 là quẻ dưới thìcháu là quẻ Đại hữu.
Lấy 11 nét + 6 nét +11 nét = 28 nét chia 6 dư 4, 4 là vạch động. Quẻ Ly trên biến thành quẻ Cấn 艮.
Cấn trên Càn 乾 dưới = quẻ Đại Súc 大畜 (quẻ biến)
Chú thích 2). Muốn tinh thông đường đời thì điểu kiện cần là phải sớm tiếp cận kinh dịch

BÀI THƠ THƯ CỦA CON NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM GỬI CHỦ TỊCH TRUNG QUỐC

(Con của người lính tức là Cháu Khải đóng vai. Ông Nội đóng vai Cháu Khải viết bài thơ này)

Ông ơi Cháu(1) ở Việt Nam
Muốn gặp Ông mà không được biết làm sao đây?
Thư này Cháu viết tỏ bày
Mong Ông đọc những lời này Ông ơi.
Từ đất liền tới biển khơi
Biên giới hai nước rạch ròi từ lâu.
Nước Ông thì bằng cả Châu Âu
Dân Ông lại đứng hàng đầu thế gian.
Vậy mà có mấy cái giàn khoan,
Tham dầu Ông cứ tính toan mưu bày.
Ngư dân nước Việt đắng cay
Vì tầu hải giám ngày ngày Ông cho đâm va.
Sáu tư chiến sỹ Gạc Ma
Hy sinh để giữ đảo nhà bình yên.
Trên bờ Ông cũng gây rối triền miên
Vẫn còn máu chảy vùng biên non nhà.
Ông Cháu - Chiến sỹ Trường Sa
Hy sinh anh dũng máu hoà biển khơi
Rồi khi Cháu được ra đời
Là Cha cầm súng giữ trời biên cương.
Ngày đêm dầu dãi gió sương
Vẫn luôn kiên định ngoan cường vượt qua.
Cha Cháu hiền lắm Ông à
Vì Ông xâm lược mới ra chiến trường.
Cha, Mẹ xa cách đôi đường
Chỉ mong đoàn tụ yêu thương sum vầy.
Chiến tranh loạn lạc đắng cay
Bao người ngã xuống đất này được chi.
Trẻ em nước mắt tràn mi,
Mất Cha, mất Mẹ vui gì hả Ông?
Máu chảy đỏ suối, đỏ sông
Người dân hai nước cũng không sướng gì.
Bành trướng nước lớn mà chi?
Việt Nam đâu có biết quỳ thưa Ông!
Thư này thành kính Cháu mong
Ông suy nghĩ lại cho lòng thảnh thơi.
Sơn Hà hoạch định do Trời
Việt Nam thoả hiệp - Ông đừng có mơ!
Ông ơi tức nước thì vỡ bờ
Khi cần Cháu cũng phất cờ xông lên.
Mỗi khi Tổ quốc gọi tên
Thì Con người lính(2) sẽ quên thân mình.
Gần nhau quý trọng chữ tình
Hãy nên gìn giữ hoà bình Việt - Trung!
chú thích:(1) ông nội-Ông Tam làm thay cho cháu Khải
(2) con của người lính,ý nói Khải là con của Bố Hậu

BÀI THƠ NGƯỜI CÔ YÊU QUÝ
(Cháu Khải làm lúc học lớp ba)

Người Cô yêu quý.
Dạy dỗ chúng em,
Từng ly,từng tý,
Mọi lời,mọi ý,
Càng sâu càng kỹ.

Dạy ăn,dạy nói
Dạy gói,dạy mở
Dạy chữ,dạy người
Như người mẹ hiền
Nâng niu trìu mến.

Dạy môn tập viết!
Cô viết đẹp lắm
Không tẩy,không xóa
Như bức tranh tường!
Em viết theo Cô
Điểm mười, điểm chín.

Dạy toán cũng thế!
Cô hướng dẫn kỹ
Trò suy nghĩ sâu
Tìm ra đáp án
Xoa đầu Cô khen.

Nhân ngày Nhà Giáo
Em vẽ bức tranh!
Tặng Cô Giáo hiền
Cô cười rạng rỡ
Má hồng như hoa.


BÀI THƠ HUÂN CHƯƠNG

Tôi chưa bao giờ đeo huân chương
Lí do: Nếu được cấp huân chương
Thì ở chiến trường nhiều người còn xứng đáng hơn tôi
Vài cái huân chương từ thuở chiến tranh xa xôi
Ai ở chiến trường sống trở về mà chẳng có
Tấm huân chương màu rực lửa
Đưa ta về một thời đổ máu đau thương
Nếu phải đeo huân chương thì
Hãy xin dành cho những ai còn nằm lại ở chiến trường
Còn Tôi, Tôi đã có mọi điều hơn mọi thứ huân chương
Đó là: Được về sống giữa đời thường, hàng tháng có lương hưu
Và khi chết thì không còn cáo phó hưởng dương.
(Viết nhân ngày trở về Điện Biên với các cựu chiến binh ở phường Trần Phú- tp Hà Tĩnh)

BÀI THƠ THƯƠNG BINH (Viết 27/7/1992)

Có người hỏi sao Anh không làm Thương Binh
Tôi trả lời nhẹ tênh Anh không làm Thương Binh
Bởi một lẽ thường tình Anh không phải là Thương Binh
Anh có mấy năm đi qua chiến tranh (5 năm 7 tháng)
Chỉ cần hai người làm chứng là được hưởng chế độ Thương Binh
Những ánh mắt của 73 liệt sĩ trường Vinh ( vừa thầy vừa bạn)
được điều động vào nam với Anh một lần (1/1972)
Vẫn còn sáng lung linh.
Nếu Anh làm Thương Binh Họ sẽ bảo mày là thằng kẻ cắp sau chiến tranh
Anh đã nói thế thì thôi !


BÀI THƠ MỜI RƯỢU BÌNH MINH

Chén này xin gắng gượng thêm
Cho đau khổ lặn, cho phiền muộn tan
Mai sau tới cõi niết bàn
Biết đâu? Lại được say tràn cung mây!
Rượu trần vừa ngọt vừa cay
Ước gì tít một lần say ước gì (Tít)

Thương nhau như bát nước đầy
Có say giờ cũng chỉ say với mình!
Than ôi! Cái giống hữu tình (Tự Thán)
Thịt xương giẫu nát tâm linh hãy còn
Rượu hồng tưới ngọn cỏ non
Mai sau trữu quả bồ hòn ngậm riêng (Nhân Quả)
Trót sinh ra để yêu thương
Xòe tay nhặt hết hạt buồn gần xa (khoảng riêngTôi)

Mai sau từ giã cõi đời
Biết đâu? Tìm được chính Tôi bây giờ! (Ước)

MỘT SỐ Ý TỰ RÚT RA TỪ CUỘC SỐNG

Lâu đài đổ bóng sông trôi
Nghìn Thu, thu lại trong đôi mắt gầy

Ngu ngơ chạm phải ao làng
Sen chưa kịp hái đã tàn trên tay
(Quan niệm sống )

Muốn tan vào cỏi vô thường
Tiếc chưa đi hết con đường mình đi

Hoàng hôn đốt trụi chân trời
Biết còn đến kịp? Chính nơi mình tìm
(Bất lực )

Thương thay một trái tim mù
Phút giây ngộ nhận nghìn Thu vẩn còn
(Ngộ nhận )

Trời là chổ dựa tinh thần ,đất là chổ vật chất khi gặp
lổi lầm Họ thường úp mặt xuống tạ tội với quê hương
Khi gặp tai bay nạn gió Họ oan khốc, Họ kêu lên: "Ối Trời Đất ơi "
(Đạo Việt Nam )

BÀI THƠ KHÓC MẸ!
(viết thay cho Cháu Quốc kịp thời khi đưa tang mẹ Cháu ra)


Nam mô a di đà phật!
Nam mô a di đà phật!
Nam mô a di đà phật!
Than ôi! Gió thổi Huyên (1) bay Cháu Con ngơ ngác?
Mẹ,Bà ra đi vắng vẻ cõi trần gian
Để lại cho cháu con, anh em đau lòng luyến tiếc .
Ôi Mẹ, Bà ôi! Sao Mẹ vội dứt tình máu mủ?
Giọt Thiên Du(2) về chốn non bồng
Con còn đây, Con Cháu còn đây
Tình tư ân, tư nghĩa nặng dày
Sao Mẹ nỡ sớm dời xa về với Tiên Tổ?
Cảnh vật đó Mẹ, Bà ơi ! Không còn nữa!
Ai gây nên gió thảm mưa sầu?
Cháu mất Bà, Con mất Mẹ yêu thương,
Đau đớn lắm, vàng rơi đáy biển.
Ôi thương ôi ! Vội vàng chi thì cũng ít ngày nằm xuống !
Để con cháu, anh em túc trực kề bên
Bát cháo lưng cơm cho trọn tình Hiếu Đạo.
Có ngờ đâu đang vui hài hòa chung sống
Đột biến này gây nên nổi tang thương
Cơn Nhật Đán (3) u sầu ảm đạm!
Chính nơi đây khi chiều tà anh em qua lại
Con Cháu đi về vui vẻ sớm hôm !
Nhưng hôm nay Mẹ, Bà đã không còn
Tình Tức,Tế,Tử (4) hai dòng lệ nhỏ.
Trai của Mẹ ở cơ quan nơi xa ngái
Nhận được tin này tím ruột bầm gan
Không về được để dư khăn, thừa gậy !
O Dượng và các Chú, Mự cũng đành chịu vậy
Cô - Vít chặn đường hết cách tiến lui
Trời cao, biển thẳm, đất dày !
Não nùng thay khi gió thổi mây vần
Mẹ vội vàng dời chân về đất Bụt.
Để bao nỗi cháu con đau lòng khôn xiết (5) !
Mẫu tử tình thâm. Ôi là tình mẫu tử
Ấp ủ nâng niu nuôi dưỡng đủ đầy
Giờ Con Cháu đã đủ cánh, đủ lông
Đủ sức bay cao, vươn xa! cùng bạn bè trang lứa.
Vậy mà Mẹ lại không còn nữa!
Con chắp tay vái chín phương trời,
Nói với Mẹ nhửng điều xám hối:
Cuộc đời Mẹ nhiều sự tình khôn kể(6)?
Bảy mươi bảy xuân qua dâu bể phong trần
Gái thuyền quyên (7) xuất giá theo chồng
Sống bên nhau xây vườn tươi tốt (8)
Có ngờ đâu? Một buổi phong trần sấm động !
Cha ra đi ngoài tuổi năm mươi
Ai gây nên sầu gãy bình rời?
Để mình Mẹ đau lòng nức nở.
Đức độ Mẹ hiền từ cam con, quý người, quý của(9)
Lòng nghĩa nhân khi bát nước đầy vơi
Con Cháu đi về no đói cơm khoai
Tiếng nói lời phô hiền hòa niềm nở
Lúc no đủ cũng như khi đói khổ
Mẫu tử tình thâm chia ngọt sẻ bùi
Có miếng chi ăn nhắc Cháu nhớ Con
Khi công buổi Mẹ nhường cơm sẻ cháo.
Trách tạo hóa gây nên sóng giữ
Ngẫm lời ai trăm sự do Trời
Đò sang sông thì sóng nước chơi vơi
Một mình Mẹ cầm chèo chống lái.
Mẹ là tấm gương nhân từ, mẫu mực
Nuôi được Mẹ Chồng sống gần trăm tuổi (10)
Cùng Đại Tôn mãi mãi trường tồn?
Con ra đi tiến bước văn minh
Người cán bộ trọn tình dân nghĩa Đảng.
Cuộc sống đang đi lên trên con đường tươi sáng!
Ước quê nhà ngày một văn minh
Hà Tĩnh quê ta thắm đượm nghĩa tình
Lòng nguyện ước ngày càng đổi mới.
Ôi thương ôi ! Con thương Mẹ lắm, Cháu nhớ Bà vô kể
Biết đến bao giờ trả nghĩa đền ân?
Hôm nay đây đau đớn trong lòng
Từ giã Mẹ ra về miền đất Tổ.
Sao Mẹ chẳng gắng thêm ít nữa?
Để chờ ngày thượng thọ bách niên !
Ai ngờ gió hạc, mây bay! Nơi chín suối nghìn thu yên nghỉ.
Hay là Mẹ cung đàn lỡ nhịp?
Xuống thiên đàng để nắn phím so dây
Cùng với Cha cho trọn tình chăn gối?
Thế là thôi ! Con mất Mẹ; Cháu mất Bà yêu quý.
Cảnh tang thương đau đớn ngậm ngùi.
Thấy Mẹ nằm giữa trầm hương khói tỏa
Con gái than khóc, các cháu đau lòng !
Trai của Mẹ Cô - Vít chặn đường không về được
Viết điếu văn gửi về đưa tiễn Mẹ.
Đạo làm con thì than khóc nhớ thương !
Thôi đành chịu âm dương cách biệt.
Nỗi đau thương mất mát trong gia đình,
Nội ngoại, con cháu, anh em xin cảm ơn:
Ban lễ tang Thành Ủy cùng Họ Tộc.
Anh em quý bậc thông gia, bà con lối phố !
Bạn bè thân hữu gần xa, các ban ngành đoàn thể.
Đã về đây thắp nén hương thơm, thăm hỏi, chia buồn
Đưa tiễn Mẹ, Bà chúng tôi về nơi yên nghỉ.
Lúc Con Cháu đau thương,Anh Em tang gia bối rối,
Có điều gì khiếm khuyết hay không?
Mong tang trường,cùng quý bậc rộng lòng lưỡng thứ.
Ô...hô…hô…
Ô...hô...hô…
Mẹ ơi là…hỡi mẹ!
Mẹ ơi là…hỡi mẹ!
Nam mô a di đà phật!
Nam mô a di đà phật!
Nam mô a di đà phật!
Cảm cáo./.

Tự ngẫm

Trương 張 (cung) vốn tự giống nòi
Quang 光 (minh) Họ Tộc đến Con chín đời
Tam 三 (tư) tên Cha Mẹ trao
Đại Hữu (大有) quẻ " Chính", "Biến" thời Quẻ Ly (離)
Diễn giải:
Tra quẻ kinh dịch dựa vào số nét chữ Hán.
Chữ Trương (張) 11 nét, chia 8 dư 3, Tốn là quẻ trên.
Chữ Quang 6 nét + chữ Tam 3 nét = 9 chia 8 dư 1, Càn là quẻ dưới.
QuẻTốn trên,Quẻ Càn dưới = Quẻ Đại Hữu (大有) là quẻ "Chính"
11 nét + 6 nét + 3 nét = 20 nét chia 6 dư 2, 2 là vạch động, Quẻ Càn dưới biến thành Quẻ Ly (離)
Quẻ Ly trên, Quẻ Ly dưới = Quẻ Ly là quẻ " Biến"

TRIẾT LÍ NHÂN SINH Ý ĐẸP LỜI HAY VÀ NHỮNG CÂU THƠ TRIẾT LÍ

" Thắng lợi nhất của đời Tôi là:Được sống thật với chính mình, biết
chấp nhận những khiếm khuyết cùa bản thân và người khác "

"Nếu những ai? Có may mắn mà thành công chút đỉnh thì nên nhớ rằng những
tính cách tốt đẹp đó;những khéo léo đó; những kiên trì đó...Chẵng
phải tự trên trời rơi xuống đầu ai? Mà do nó đã nằm sẵn trong chuỗi ADN
Tiên Tổ,Can Cố,Ông Bà,Cha Mẹ đã cài đặt sẵn trong tế bào của mình rồi"

"Người sao của chiêm bao là vậy"

Vừa chợp mắt đã mở
Gặp mình nghìn năm trước
Sẩy chân sa xuống vực
Gặp mình nghìn năm sau.

Tưởng rằng ta gặp mình rồi
Tỉnh ra giấc mộng giữa đời phù du.
( Giấc Mơ)

Tiêu phí nửa đời chợt hiểu!!
Nừa đời còn lại gang tay
( Ngẫm)

Nhắm mắt nhìn xuyên ba cõi
Mở ra bụi thế mù lòa.

Thời gian như rừu sắc
Đẽo bạt cả đầu xanh.
( Ngẫm)

Bấm nhầm một đốt ngón tay.
Trăm năm rút lại một ngày hư không!
( Vòng đời)

Lâu đài đổ bóng trôi sông
Nghìn Thu, thu lại trong đôi mắt gầy!
(Nét Thu)


Sống đẹp một đời khó nhất: "Cái chết" !
(Triết lí nhân sinh)

Người còn xanh cỏ trên mồ
Ta còn bạc tóc đến giờ lâm chung !
Thuyền chưa neo bến Tương Phùng
Trái tim nửa đập, nửa ngừng vì đau.
( Tinh ma)

Nhưng câu chuyện chẳng thể tìm trong sách
Vẫn trẻn trơ có mặt trên đời.
( Ngỡ 1)

Cuộc đợi sớm rủi, chiều may
Bây giờ cát bụi, mai ngày kim cương.
( Ngỡ 2)

Ban ngày sấp ngửa sống ; Sập ngửa một bàn tay
Đêm vè tìm lại bóng ; Giật mình ngỡ bóng ai?
( Tự thán)

Mong manh không hoàn thiện
Là hạnh phúc con người !!!
(Như )

Ai đánh mất nơi thiên đàng?...
Chính là tự chuốc lấy nỗi đau nơi địa ngục.
( Triết lí nhân sinh)

Đi giữa đất trời, đường thẳng ngắn nhất
Đi vào lòng người, theo đường dích dắc

Muốn hiểu con người: Mở to đôi mắt
Muốn nhìn rõ mình: Nhắm mắt rõ nhất.
( Ngẫm)

Ngồi dười đất, Đời gọi mình là dế!
Lên cành cao Ta hóa chú ve sầu.
( Nghĩ)

Dù tốt đỏ, tốt đen
Vẫn mơ hoài nhập cung.
( Hy vọng)

Đừng lo trên mộ hậu thế khắc gì
Mong đời qua ngõ " bạn" đừng thưa đi.
( Thơ hai câu)

Con người đi được muôn nơi ( kể cả cung trăng)
Sao đường đi giữa thế gian
Người không mở được lối sang với người ???

Úp mặt xuống chùm gai tua tủa
Khóc tìm mình không chút nỗi đau.
(Thẹn)

Trái đất ơi! Ngược vòng quay
Cho ta gặp lại cái ngày đầu tiên
( Ước )

" Làm thơ đã khó, trở thành nhà thơ còn khó hơn lên trời
: Thông minh, học rộng ư? Chưa đủ. Giao lưu trừng trải ư?
Chưa hẳn đã thành tài ! Cái chình là ở tâm mình phải sáng.
Những gì từ trái tim mình đi ra thì dể trở vào trái tim ...?
(Khăng định )

NGẪM - NGHĨ

Trẻ ngỡ mình nặng nhất.
Già thấy mình nhẹ tênh !!!
(Ngỡ)


Trần gian một kiếp rong chơi,
Cao xanh đáy giếng,ngỡ trời bao la
Vân phong một thoáng bay qua!
Biết bao được mất,chỉ là hư vô.
Tác giả: Trần Cao Vân

Cát vàng sóng cuốn về khơi .
Chỉ mong sót lại thơ Tôi một dòng
(Ước )

Điếu văn Họ Trương Quang Đại Tôn - Điếu Bát thế húy Sừ

(viết thay cho Thập Thế Tự Lưu Tộc Trương Họ kịp thời khi đưa tang Ông Sừ ra)

Nam mô a di đà phật !
Nam mô a di đà phật !
Nam mô a di đà phật !
Than ôi !
Tiết mùa Thu trời quang mây tạnh
Hạc từng đàn vỗ cánh về non
Mới hôm qua Cháu còn chạy đến chơi nhà
Mà hôm nay Ông đã bay đi đâu ? về miền quê lạ
Trông ảnh Ông dòng họ ,cả tang trường buồn bã
Anh Em đây, Họ Tộc còn đây
Tình nghĩa thủy chung hôm sớm sum vầy
Sao Ông nỡ sớm dứt tình máu mũ
Tình cảm của Ông đối với mọi người thật đầm đà sâu nặng !
Tắt lửa tối đèn hoạn nạn có nhau
Việc ở ăn hiếm có ai bằng
Bề đối xử thật là keo sơn gắn bó
Ôi thương ôi ! Vội vàng chi thì cũng ít ngày nằm xuống
Để Vợ Con Anh Em túc trực kề bên
Bát cháo lưng cơm cho trọn tình hiếu đạo
Có ngờ đâu ? đang vui hài hòa chung sống
Đột biến này gây nên nỗi tang thương
Cơn Nhật Đán u sầu ảm đạm
Chính nơi đây khi chiều tà Anh Em qua lại
Cháu Con đi về vui thú cảnh điền viên
Nhưng hôm nay Ông đã không còn
Cả Họ Tộc hai dòng lệ ứa
Tội Bà giờ gối lẽ chăn đơn
Thiếu tay người sửa gối nâng khăn
Tuy rằng: đã có Cháu, có Con hôm sớm
Cây đại ngàn vội vàng đỗ ngã
Tình Anh Em người mất người còn
Nghĩa Vợ Chồng, buồng lạnh gối đơn
Vàng đáy biển tìm ra đâu nữa??
Sao Ông nỡ ra đi vội vã
Trai Gái Rể Dâu chưa kịp thuốc thang
Trong Dòng Họ chưa kịp lời thăm hỏi
Lòng những tưởng Ông dần dà trăm năm có lẻ !
Để sớm hôm vui thú cảnh Gia Đường
Ai ngờ mệnh đáo gây nên
Ông cất bước sớm chia ly Dòng Tộc
Kể từ này Ông không còn nữa
Tình cảm Anh Em, Ông Cháu trong Dòng Họ
Có chén rượu vui buồn ngày rằm về, hay buổi tất niên.
Nâng chén rượu trước Từ Đường thiếu vắng Ông
Nghẹn ngào không nuốt nỗi
Ôi thôi ! Hạc đã cất cách Đào Nguyên gặp hội
Tấc đất " vàng" cách biệt âm dương
Trước lúc lên xe tiễn Ông lên đường về với Tổ Tiên
Dâng ngọn khói trước linh sàng Ông để tỏ tường Dòng Tộc
Tiếc thương Ông sớm về khuất núi
Họ Tộc thiếu người nẫy mực cầm cân
Việc cúng tế Tổ Tiên lấy ai người hướng dẫn ?
Đành vẫn biết mệnh trời đến đó
Ông ra đi không dặn Cháu, dặn Con
Không kịp bàn giao việc cúng đơm thờ tự Tổ Tiên
Lời chia buồn Họ Tộc gửi tới Mẹ Con, Bà Cháu
Chào vĩnh biệt ! Xin kính chào vĩnh biệt !
Hương một nén thắm tình Dòng Tộc
Rượu ba tuần rót chén đầy vơi
Tiển Ông về đất Tổ dạo chơi
Lòng kính cẩn mong linh hồn Ông thấu tỏ !!

Ô.... hô .... hô!
Ô.... hô .... hô!
Ông ơi .... là ..... Ông hỡi!
Ông ơi .... là ..... hỡi Ông!

Nam mô a di đà phật!
Nam mô a di đà phật!
Nam mô a di đà phật!
Cảm cáo!

Nam tử